Sau những lần đi sứ Trung Hoa, Tiến sĩ Nguyễn Quang Tán đã học được nghề ép dầu và truyền dạy lại cho dân làng Xà, trở thành một trong những nhà khoa bảng được dân tôn làm tổ nghề.
Giai thoại buồn trong ngày vinh quy bái tổ
Nguyễn Quang Tán sinh năm 1502, người làng Như Nguyệt, nay thuộc xã Tam Giang (Yên Phong, Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu (1529) và làm quan đến chức Giám sát Ngự sử. Ông được cử đi sứ 3 lần sang Trung Hoa vào các năm 1530, 1534 và 1540.
Theo các giai thoại còn lưu lại, cha của Nguyễn Quang Tán là người làng Mai Thượng (nay thuộc huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang) đến làm thợ rèn tại làng Như Nguyệt rồi kết duyên với mẹ ông người làng này. Là con nhà nghèo lại là dân ngụ cư, nhưng thầy đồ thấy thông minh nên Nguyễn Quang Tán vẫn được nhận vào lớp. Lớn lên, noi gương các tiến sĩ đã thành danh trong làng, ông quyết chí học hành và đi thi.
Khoa thi năm 1529, thời nhà Mạc, ông tham gia ứng thí và đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa thi năm Kỷ Sửu (1529) ghi rằng: Ngày 18 tháng 2, Hoàng thượng ngự ở hiên điện, đích thân ra đề văn sách hỏi về đạo trị nước. Sai Đề điệu là Thái bảo Diệm quốc công Mạc Kim Phiêu, Binh bộ thượng thư Khánh Khê hầu Mạc Ninh Chỉ cùng các quan hữu ti chia giữ các việc.
Hôm sau, quan Độc quyển là Lễ bộ thượng thư Đông các Đại học sĩ Văn Đàm bá Nguyễn Thanh, Lại bộ thượng thư Quốc Tử Giám Tế tửu Bỉnh Lễ bá Đinh Trinh dâng quyển đọc. Hoàng thượng xem xét, định thứ bậc cao thấp. Ban cho bọn Đỗ Tông 3 người đỗ Tiến sĩ cập đệ, bọn Nguyễn Vân Quang 8 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Hữu Hoán 16 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân.
Ngày 24 tháng 2, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, sai gọi loa xướng tên người đỗ. Bộ Lại ban ân mệnh, bộ Lễ rước bảng vàng treo trước cửa nhà Thái học… Bọn thần kính vâng mệnh sáng, chúc mừng cho nền tư văn, cung kính cúi đầu rập đầu dâng lời rằng: "Khí chân nguyên hòa hợp thì hào kiệt xuất hiện trong thiên hạ, vua sáng tôi hiền gặp gỡ, cơ trời cảm ứng, há phải chuyện tình cờ… Từ đời Hán đến Đường, Tống cùng là các bậc anh minh của nước Việt ta đều lấy việc đó làm bậc thang cho hào kiệt tiến thân…
Kẻ sĩ được gặp gỡ vua thánh anh minh, gội nhuần giáo hóa, dự vào hạng anh hùng, bước vào đường vinh hiển, lại được nêu họ tên lâu dài trên bia đá, há chẳng vẻ vang may mắn lắm sao? Vậy nên mang đội ơn sâu, dốc lòng thực tiễn, lấy trung liêm dồi tiết cứng, lấy lễ nghĩa làm phép thường, giữ lòng thẳng thắn, chẳng lệch chẳng xiên, làm nên sự nghiệp lớn lao bền vững...”.
Sau lễ nhận mũ áo tiền bạc, Nguyễn Quang Tán vội trở về làng để làm lễ vinh quy. Nhưng khi về đến nơi ông liền bị một số người làng gièm pha và ngăn cản. Buồn chán, ông sang làng bên có tên là làng Xà và xin tá túc (nay là thôn Đông, xã Tam Giang, Yên Phong, Bắc Ninh).
Rất may là làng này chưa có ai đỗ cao như vậy nên ông được dân làng đón tiếp hết sức nhiệt tình. Không những thế họ còn cho ông vào ngôi đình thiêng của làng để làm lễ theo quy định của triều đình lúc bấy giờ. Tương truyền xưa kia sau khi đánh thắng quân Tống ở trận Bình Lỗ (gần cửa sông Cà Lồ), Lê Đại Hành đã cho quân sĩ đến đây ăn mừng. Để ghi nhớ sự kiện này, dân làng đã đặt tên cho ngôi đình là Đình Mừng, đến nay vẫn còn dấu tích.
Tiến sĩ Nguyễn Quang Tán rất cảm động và xin phép cho chuyển cả gia quyến đến đây sinh sống. Được dân làng giúp đỡ, ông nhanh chóng sắp xếp chỗ ăn ở cho gia quyến rồi vội về kinh nhận chức quan.
Khoa thi năm 1529, thời nhà Mạc, Nguyễn Quang Tán tham gia ứng thí và đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
Đem "Nam quốc sơn hà” về với nhà Lê
Giai đoạn đầu nhà Mạc đã đưa ra nhiều cải cách tiến bộ cho đất nước, tuy nhiên Mạc Đăng Dung vẫn mang tiếng là bề tôi giết vua cướp ngôi. Cùng với lý do này và việc không chấp nhận hình ảnh vua Mạc tự trói mình quỳ lạy trước mạc phủ của quân Minh ở trấn Nam Quan vào tháng 11 năm 1540. Nhiều hào kiệt và nho sĩ nhà Mạc đã chạy về với nhà Lê trung hưng vào năm 1563, trong đó có Nguyễn Quang Tán và cùng đi với ông còn có cả bài thơ "Nam quốc sơn hà”.
"Nam quốc sơn hà” là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Cả hai lần bài thơ này đều phát tích từ mảnh đất của làng Xà, lần thứ nhất là năm 981 ở cửa sông Cà Lồ (theo truyện "Hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt”), lần thứ hai là năm 1077 ở đền Trương tướng quân (theo Đại Việt sử ký toàn thư, đoạn về Lý Nhân Tông).
Các nghiên cứu cho biết, làng Xà cũng là quê hương của hậu duệ vua Lê Trung Tông (Tiền Lê). Cách đây hơn 1.000 năm, sau chính biến năm 1005 ở Hoa Lư, dòng họ này đã trốn chạy về cửa sông Cà Lồ, rồi thay tên đổi họ qua nhiều thế kỷ. Trong khoảng thời gian trên bài thơ "Nam quốc sơn hà” cũng được giấu kín và chỉ được truyền miệng trong nhân dân mà không ai nhìn thấy một văn bản nào.
Mãi đến khi những khúc mắc trong lich sử được vua Trần Minh Tông gỡ bỏ thì bài thơ "Nam quốc sơn hà” mới xuất hiện trong sách "Việt điện u linh”. Tuy nhiên khi đó truyện Trương Hống, Trương Hát vẫn phải tách làm 2 phần, phần truyền thuyết và phần bài thơ. Phần bài thơ chỉ là sự chép nối tiếp sau khi truyền thuyết đã kết thúc và cung cấp rất ít thông tin về trận Như Nguyệt.
Dụng cụ ép dầu tại đền thờ ông tổ ép dầu Nguyễn Quang Tán.
Đến năm 1554, dưới thời Lê Trung Tông (Hậu Lê) thì bài thơ "Nam quốc sơn hà” lại xuất hiện. Nhưng lần này bài thơ được gắn với bối cảnh cụ thể của trận đánh Tống ở vùng cửa sông Cà Lồ do chính Lê Đại Hành chỉ huy. Tuy nhiên có một điều ngạc nhiên là bài thơ này phát tích ở quê hương của hậu duệ vua Lê Trung Tông (Tiền Lê) nhưng lại xuất hiện bằng văn bản dưới triều Lê Trung Tông (Hậu Lê) đúng vào thời điểm diễn ra kỳ thi Chế ở Vạn Lại (Thanh Hóa).
Qua đó có thể đoán tài liệu này đã được nhà Lê trung hưng sử dụng và cho phổ biến rộng rãi đúng vào năm 1554. Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt muốn ca ngợi tinh thần "trung với vua cũ, thà chết không theo vua mới” của hai vị anh hùng Trương Hống, Trương Hát nên có tác dụng rất tốt cho việc kêu gọi các hào kiệt và nhân sĩ từ bỏ nhà Mạc mà về với nhà Lê.
Giới nghiên cứu cũng xác định rằng, để đem bài thơ "Nam quốc sơn hà” về cho nhà Lê trung hưng phải có người am hiểu bài thơ này, có quan hệ rộng rãi với giới nho sĩ vùng Thăng Long, người đó còn phải hiểu tường tận vùng cửa sông Cà Lồ và muốn hướng về nhà Lê.
Theo một số nghiên cứu, thì sau khi truyền nghề thành công, dân làng nhận thấy Nguyễn Quang Tán thường vắng mặt ở làng Xà một thời gian khá dài. Mãi đến đầu năm 1563 ông mới trở về và đón vợ con đi hẳn. Từ đó có thể đoán rằng Nguyễn Quang Tán cũng là một trong những người đã đem bài thơ "Nam quốc sơn hà” vào cho nhà Lê trung hưng.
Nhà Mạc đã có công rất lớn trong việc đào tạo con người, trong vòng 65 năm trị vì (1527 - 1592) đã tổ chức được 22 khoa thi, lấy đỗ 485 tiến sĩ và 13 trạng nguyên. Trong cùng thời gian đó, nhà Lê trung hưng chỉ tổ chức được 7 khoa thi, lấy đỗ 45 tiến sĩ.
Như vậy, số lượng khoa thi của nhà Lê chỉ bằng 1/3 nhà Mạc, số tiến sĩ chỉ bằng 1/11. Tuy nhiên, nhờ việc nêu cao ngọn cờ độc lập trong đó có việc phổ biến rộng rãi bài thơ "Nam quốc sơn hà”, nên nhà Lê trung hưng đã thu hút được nhiều nhân tài, từng bước giành lại vị trí chính thống, đủ sức đánh bại nhà Mạc và sau này phát triển thành một triều đại dài nhất trong lịch sử Việt Nam với 256 năm (1533 - 1789). Công này có phần của Tiến sĩ Nguyễn Quang Tán.
Bia đá khắc bài thơ thần "Nam quốc sơn hà” bản chữ Hán tại đền Xà, xã Tam Giang (Yên Phong, Bắc Ninh).
Đi sứ Bắc quốc, học được nghề ép dầu
Các tư liệu lịch sử cũng khẳng định, Nguyễn Quang Tán làm quan đến chức Giám sát Ngự sử. Ông được cử đi sứ 3 lần sang Trung Hoa. Nhờ có các hoạt động ngoại giao liên tiếp như vậy nên nhà Mạc đã giữ được biên giới phía Bắc hòa bình suốt thời gian chiến tranh Nam - Bắc triều.
Các cuộc đi sứ của sứ thần nhà Mạc thường kéo dài hàng năm trời, phần do đường sá xa xôi phần phải chờ đợi rất lâu ở dịch quán. Các sứ thần phải hết sức nhẫn nại và nhiều lúc phải chịu nhục thay cho nhà vua. Những lúc rảnh rỗi, Nguyễn Quang Tán thường ra ngoại ô, làm quen với cuộc sống của người dân Trung Hoa lúc bấy giờ.
Với vốn kiến thức nghề rèn thủ công mà cha ông để lại, Nguyễn Quang Tán đã nhanh chóng phát hiện ra những điều mới lạ ở các làng nghề gần đó. Thế là ông dùng hết thời gian còn lại để tìm hiểu, nghiên cứu và học cho được một cái nghề - đó là ép dầu. Sau khi về nước, ông đã chuyển giao cách thức cho dân làng Xà, nơi đã cưu mang gia đình ông.
Đến năm 1538, ông đã cơ bản truyền nghề ép dầu cho dân làng thành công. Nhờ có nghề ép dầu, kinh tế làng Xà phát triển suốt 400 năm, trở thành một làng giàu có thịnh vượng vào hàng bậc nhất trong vùng. Vì thế, làng Xà còn được mang tên là xã Hương La (có nghĩa là tiếng thơm) và được chọn làm huyện lỵ của huyện Yên Phong trong khoảng thời gian khá dài.
Làng nghề ép dầu do Tiến sĩ Nguyễn Quang Tán tạo dựng đã tồn tại, phát triển suốt từ năm 1538 - 1945. Nhớ ơn ông, dân làng đã dựng đền thờ và tôn ông là Thánh Sư. Trong gian thờ chính còn lưu lại 4 chữ "Sơn Lộc đại phu” nghĩa là một bậc đại trượng phu to như núi. Hàng năm, vào ngày 12 tháng 2 âm lịch dân làng vẫn đến dâng hương tại đền thờ Thánh Sư, có năm còn mở hội tôn vinh ông.
Đền thờ ông tổ nghề ép dầu - Tiến sĩ Nguyễn Quang Tán được xây dựng vào thời Lê (cuối thế kỷ 16) trong quần thể di tích đình, chùa của làng. Đền có kết cấu kiểu chữ Nhị, gồm 2 tòa: Tiền đường 3 gian 2 dĩ kiểu bình đầu bít đốc, cột trụ lồng đèn; Hậu đường 3 gian. Kết cấu vì nóc gian giữa tòa Hậu đường kiểu "thượng con chồng trụ đấu kê, câu đầu, hạ kẻ chuyền”. Trên các con chồng, câu đầu, kẻ soi gờ chỉ, chạm hoa lá cách điệu, mang phong cách thời Nguyễn. Hiện nay, đền còn bảo lưu được nhiều hiện vật quý: Tượng thờ, ngai thờ, bài vị, hoành phi, câu đối thời Nguyễn, Bát hương thế kỷ 18 đỉnh hương, bộ Bát bửu thế kỷ 20…
Vào dịp lễ hội, có nhiều trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa như: Đánh cờ, chọi gà, đấu vật, hát quan họ… để tôn vinh ông tổ nghề ép dầu. Du khách đến lễ hội sẽ được đón tiếp nồng hậu, bởi theo quan niệm của người dân làng Xà "nhà nào có nhiều khách đến chơi thì cả năm sẽ gặp nhiều may mắn và tài lộc”. Sự đón tiếp ấy cũng thể hiện và tái hiện việc dân làng Xà đã tiếp nhận gia đình Tiến sĩ Nguyễn Quang Tán khi không được quê hương chấp nhận trong quá khứ khi vinh quy bái tổ.
Lịch sử khoa bảng và làng nghề Việt Nam ghi nhận một số tiến sĩ được tôn làm tổ nghề. Trong đó, có Tiến sĩ Trần Lư - tổ nghề sơn, Tiến sĩ Lê Công Hành - tổ nghề thêu, Tiến sĩ Lương Như Hộc - tổ nghề khắc ván in, Tiến sĩ Đặng Huy Trứ - tổ nghề nhiếp ảnh, Tiến sĩ Nguyễn Quang Tán - tổ nghề ép dầu. Nghề ép dầu là một công việc được đánh giá vô cùng vất vả đúng như câu ca lưu truyền "1 giọt 3 vồ” nhưng cũng đầy tự hào: "Miếu hàng dầu tự thuở xưa/ Thờ ông tổ nghiệp ép ra dầu nhờn/Dầu này bán lẻ bán buôn/ Đem bán các chốn khắp vùng Bắc Ninh/ Dầu của ta thật nổi danh/ Trong như hổ phách ai sành cũng khen”.
Tại mảnh đất Dế Xu Phình (xã Púng Luông, tỉnh Lào Cai), nơi nổi tiếng với rừng thông và những thửa ruộng bậc thang tuyệt đẹp, những đứa trẻ người Mông vẫn đang từng ngày nâng niu, gìn giữ nét đẹp truyền thống của dân tộc mình qua nhiều hoạt động ý nghĩa trong trường học.
Báo Nhân Dân giới thiệu ý tưởng mascot quốc gia Anh Tre, nhân vật được phát triển từ hình tượng cây tre Việt Nam, hướng tới xây dựng một biểu tượng giao tiếp mới của đất nước trong đời sống hiện đại.
Sáng 24/5, tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, màn đồng diễn múa Sênh tiền với sự tham gia của 1.000 học sinh đã tạo điểm nhấn ấn tượng trong khuôn khổ Festival mùa Hè “Vang xa vó ngựa cao nguyên” năm 2026.
Trong không khí rộn ràng của Lễ khai mạc Tuần du lịch Ninh Bình 2026, sự xuất hiện của các nghệ nhân và những hạt nhân văn nghệ tiêu biểu đến từ các xã, phường (Văn Chấn, Quy Mông, Thác Bà, Nghĩa Lộ) của vùng đất biên cương Lào Cai đã mang đến một sắc thái đầy ấn tượng, với những màn trình diễn độc đáo, đậm đà bản sắc các dân tộc Mông, Dao, Tày, Thái.
Sáng 24/5, vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19 diễn ra sôi động tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, thu hút hàng nghìn người dân và du khách đến theo dõi, cổ vũ. Đây là điểm nhấn đặc biệt trong chuỗi hoạt động Festival mùa Hè “Vang xa vó ngựa cao nguyên” năm 2026.
Sau vòng loại đầy kịch tính với sự tham gia tranh tài của 90 nài ngựa, đã có 32 gương mặt xuất sắc nhất được lựa chọn bước vào tranh tài để chinh phục ngôi vô địch trong sáng nay.
Xã Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai vừa tổ chức trình diễn, ghi hình và hoàn thiện hồ sơ trình thẩm định xác lập kỷ lục “Màn biểu diễn múa Sênh tiền đông nhất Việt Nam” với sự tham gia của 1.000 học sinh các trường học trên địa bàn.
Sáng 23/5, tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026 chính thức khai mạc, thu hút đông đảo người dân và du khách trong, ngoài tỉnh tham dự. Đây là hoạt động mở đầu cho chuỗi sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch diễn ra đến hết ngày 31/5 với chủ đề “Vang xa vó ngựa cao nguyên”.
Làng nghề, nghề truyền thống là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống và sinh kế của người dân. Việc bảo tồn, phát triển làng nghề nhằm gìn giữ giá trị truyền thống, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Từ đỉnh núi mây phủ, dòng Nậm Lùng trong veo len qua xã Tú Lệ như mạch nguồn nuôi dưỡng cả vùng thung lũng trù phú dưới chân đèo Khau Phạ. Dòng nước ấy không chỉ tưới mát cho cánh đồng nếp nổi tiếng bao đời mà còn âm thầm lưu giữ ký ức, nếp sinh hoạt và văn hóa canh tác của người Thái nơi đây.
Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều ca sĩ và nghệ sĩ nổi tiếng như Chi Dân, Miu Lê và mới đây nhất là ca sĩ Đinh Long Nhật và Sơn Ngọc Minh liên tiếp vướng vào các vụ việc liên quan đến ma túy. Những vụ việc này cho thấy ma túy không còn là hiện tượng cá biệt mà đang trở thành hồi chuông cảnh báo về sự len lỏi ngày càng sâu vào môi trường giải trí.
Nhiều năm gắn bó với công tác giảng dạy tại Khoa Văn hóa - Nghệ thuật, Trường Cao đẳng Lào Cai, giảng viên Trương Thị Hảo luôn dành nhiều tâm huyết để truyền cảm hứng cho các thế hệ học sinh, sinh viên theo đuổi nghệ thuật múa. Và hôm nay, trên chính giảng đường thân thuộc ấy, con gái chị đang tiếp tục hành trình nối dài niềm đam mê được vun đắp từ cái nôi gia đình.
Có những người cầm bút dành cả cuộc đời để đi tìm những đề tài mới lạ, nhưng cũng có những người như nhà văn Hoàng Việt Quân, chọn cách “đứng yên” trên mảnh đất tâm hồn để đào sâu vào những giá trị vĩnh cửu. Hơn 50 năm qua, ông đã dành trọn bút lực để viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh - chủ đề mà ông coi là lẽ sống.
Sáng 19/5, tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai (cơ sở 1), Trung tâm Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao tỉnh phối hợp cùng Hội Khoa học Lịch sử tỉnh tổ chức trưng bày chuyên đề “Rạng rỡ tên Người” nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).
Trong mạch nguồn cảm xúc vô tận về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi tác phẩm ra đời đều là lời khẳng định giá trị vĩnh hằng về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh nhật Bác (19/5/1890 - 19/5/2026), tác giả Nguyễn Thế Quynh đã ra mắt bạn đọc tập bút ký “Theo Người vững bước đi lên”.
Tháng 5 - dòng người từ khắp nơi lại tìm về Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại phường Nghĩa Lộ để dâng hương, tưởng nhớ Người. Nơi đây là công trình lưu niệm, cũng là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống cách mạng, lưu giữ những tình cảm thiêng liêng của đồng bào các dân tộc dành cho Bác Hồ kính yêu.
Tối 18/5, tại sân vận động Làng Sen, xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An long trọng tổ chức khai mạc Lễ hội Làng Sen năm 2026, mở đầu chuỗi hoạt động kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026).
Từ một địa phương còn nhiều khó khăn, xã Lâm Thượng hôm nay đã đổi thay rõ nét với hạ tầng khang trang, đời sống người dân từng bước nâng cao và bản sắc văn hóa dân tộc được gìn giữ. Thành quả ấy có dấu ấn quan trọng từ phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Hưởng ứng Ngày Quốc tế Bảo tàng 2026 với chủ đề “Bảo tàng kết nối một thế giới bị chia rẽ”, Bảo tàng Lào Cai phối hợp cùng Trung tâm Văn hóa, Nghệ thuật và Thể thao tổ chức chuỗi hoạt động “Gieo xanh nơi đỉnh mây”. Chương trình không chỉ giới thiệu giá trị di sản và tri thức bản địa, mà còn tạo không gian kết nối cộng đồng, lan tỏa thông điệp bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và hướng tới mục tiêu phát triển tỉnh Lào Cai “Xanh, hài hòa, bản sắc, hạnh phúc”.