Các biện pháp phòng chống lây nhiễm virus Nipah trên đàn vật nuôi

Ngày 29/1, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai ban hành Văn bản số 761/SNNMT- TTBVTVCNTYTS yêu cầu các địa phương và người dân chủ động triển khai các biện pháp ngăn chặn vi rút Nipah xâm nhập vào địa bàn tỉnh, đồng thời phòng, chống nguy cơ dịch bệnh lây lan trên đàn vật nuôi. 

0:00 / 0:00
0:00

Thông tin chung về dịch bệnh do vi rút Nipah

Vi rút Nipah có ổ chứa tự nhiên là dơi ăn quả. Người có thể bị nhiễm vi rút thông qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết (nước tiểu, nước bọt), phân, chất thải của dơi nhiễm bệnh; qua thực phẩm như ăn trái cây hoặc uống nhựa cây (như nhựa cây chà là) bị nhiễm chất thải của dơi.

Lây truyền thông qua vật chủ trung gian, trong đó lợn đóng vai trò là "vật chủ khuếch đại”, sau đó lây sang người qua tiếp xúc gần với lợn bệnh hoặc giọt bắn từ đường hô hấp của lợn; các động vật nuôi khác như trâu, bò, dê, ngựa, chó và mèo…đều có khả năng nhiễm vi rút Nipah.

Lây từ người sang người do tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết hoặc chất tiết đường hô hấp của người bệnh (thường xảy ra trong môi trường gia đình hoặc bệnh viện).

Thời gian ủ bệnh: Ở người thường từ 4 đến 14 ngày, nhưng có thể kéo dài đến 45 ngày. Ở lợn thường từ 7 đến 14 ngày.

Dấu hiệu nhận biết và chẩn đoán bệnh trên động vật nuôi:

- Đối với lợn: Yếu chân, ho khan, kêu to, co giật có triệu chứng thần kinh, tử vong đột ngột.

- Đối với trâu, bò, dê: Thường không có triệu chứng hoặc bệnh rất nhẹ.

- Đối với ngựa: Rối loạn thần kinh vận động, co giật; xuất hiện bọt hô hấp từ mũi/miệng (đặc trưng).

- Đối với chó: Khó thở, tỷ lệ tử vong thấp.

- Đối với mèo: Suy thận nặng, khó thở; tỷ lệ tử vong cao.

image-2.jpg
Đảm bảo công tác tiêu hủy gia súc theo đúng quy định.

Các biện pháp phòng chống lây nhiễm virus Nipah trên đàn vật nuôi

Theo hướng dẫn của Tổ chức Thú y thế giới (WOAH), các biện pháp phòng, chống chủ yếu tập trung vào:
- Chăn nuôi an toàn sinh học tại trại lợn: Lắp đặt lưới ngăn dơi, chim; bảo vệ nguồn thức ăn, nước uống và hạn chế cây ăn quả quanh chuồng trại để cắt đứt đường truyền lây từ động vật hoang dã.

- An toàn sinh học tốt là yếu tố then chốt trong việc phòng ngừa nhiễm bệnh ở động vật nuôi. Một trong những biện pháp an toàn sinh học quan trọng nhất tại các khu vực có nguy cơ là giảm thiểu khả năng tiếp xúc giữa ổ chứa vi rút là dơi với các loài động vật cảm nhiễm.

baolaocai-c_4-1.jpg
An toàn sinh học là yếu tố then chốt phòng ngừa nhiễm bệnh ở vật nuôi.

- Tại các khu vực đã ghi nhận nhiễm bệnh, lợn và ngựa cần được nuôi cách xa các khu vực trồng cây ăn quả; đồng thời không sử dụng trái cây có khả năng đã tiếp xúc với dơi làm thức ăn cho động vật.

- Thực hiện giám sát hội chứng trên đàn lợn (triệu chứng hô hấp và thần kinh). Mọi trường hợp nghi ngờ hoặc đã xác định nhiễm vi rút Nipah phải được báo cáo kịp thời cho cơ quan thú y có thẩm quyền. Các địa điểm chôn lấp xác động vật nhiễm bệnh phải được khử trùng bằng vôi theo đúng quy định kỹ thuật.

baolaocai-c_ba-nguyen-thi-nga-xa-xuan-quang-bao-thang-cham-soc-dan-lon-cua-gia-dinh-1693.jpg
Đảm bảo vệ sinh trong chăn nuôi.

- Vệ sinh cá nhân: Người chăn nuôi và công nhân lò mổ phải giảm hoặc không tiếp xúc với dơi và các chất bài tiết của dơi, thực hiện nghiêm các biện pháp vệ sinh cá nhân; những người tiếp xúc với động vật có nguy cơ nhiễm bệnh cần sử dụng trang bị bảo hộ lao động (PPE) đầy đủ.

Chủ động triển khai các biện pháp ngăn chặn vi rút Nipah xâm nhập vào địa bàn

Tăng cường giám sát chủ động tại các cơ sở, hộ chăn nuôi lợn, đặc biệt là tại các khu vực có mật độ quần thể dơi ăn quả (dơi ngựa) cao hoặc gần các khu bảo tồn thiên nhiên; giám sát hội chứng thông qua việc theo dõi chặt chẽ các đàn lợn có biểu hiện bất thường về hô hấp (ho khàn) hoặc có triệu chứng thần kinh (co giật, liệt).

Khi phát hiện trường hợp nghi ngờ, phải kịp thời báo cáo ngay cho cơ quan có thẩm quyền và thực hiện lấy mẫu xét nghiệm RT-PCR tầm soát vi rút Nipah.

Tăng cường công tác kiểm soát giết mổ lợn. Người tham gia giết mổ, kiểm soát giết mổ, tiếp xúc với động vật phải bảo đảm thực hiện tốt yêu cầu vệ sinh cá nhân.

Hướng dẫn người chăn nuôi thực hành nghiêm chăn nuôi an toàn sinh học, tập trung vào các nội dung sau: Thiết lập và duy trì các biện pháp an toàn sinh học tại cơ sở chăn nuôi, lắp đặt hệ thống lưới chắn côn trùng, chim, dơi xâm nhập vào chuồng nuôi, khu vực chăn nuôi. Đảm bảo nguồn nước và thức ăn cho lợn không bị nhiễm chất thải (nước tiểu, nước bọt, phân) từ động vật hoang dã.

Hạn chế tối đa việc tiếp xúc, tuyệt đối không để người lạ, phương tiện vận chuyển chưa được vệ sinh, khử trùng vào khu vực chăn nuôi. Công nhân chăm sóc lợn cần được trang bị đầy đủ bảo hộ lao động.

baolaocai-c_image-1.jpg
Không nuôi nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã.

Khuyến cáo người dân thực hiện nguyên tắc "5 không" trong chăn nuôi và giết mổ, đặc biệt là các loài vật chủ tự nhiên như dơi ăn quả (dơi ngựa), chim di cư, cầy, cáo, cụ thể như sau:

- Không nuôi nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã;

- Không săn bắt, giết mổ động vật hoang dã;

- Không sử dụng, tiêu thụ thịt động vật hoang dã;

- Không để vật nuôi tiếp xúc với động vật hoang dã;

- Không che giấu dịch bệnh khi phát hiện gia súc có triệu chứng bất thường (ho khàn, co giật) hoặc thấy chim, dơi chết hàng loạt, người dân không được tự ý xử lý hoặc bán chạy, phải thông báo ngay cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan thú y để thực hiện lấy mẫu chẩn đoán bệnh và thu gom xử lý đúng quy định.

Việc chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống ngay từ sớm là giải pháp quan trọng nhằm ngăn chặn nguy cơ vi rút Nipah xâm nhập, góp phần bảo vệ an toàn dịch bệnh, ổn định sản xuất chăn nuôi và sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Từ cây cứu đói đến nguyên liệu công nghiệp thực phẩm

Từ cây cứu đói đến nguyên liệu công nghiệp thực phẩm

Từ vai trò lịch sử là cây trồng cứu đói, cây sắn hiện nay đã khẳng định vị thế là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến tinh bột. Tại xã Đông Cuông, sự liên kết chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp và các hộ nông dân đang tạo ra sinh kế ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho người dân vùng khó.

Sắc màu tươi sáng ở Cốc Râm

Sắc màu tươi sáng ở Cốc Râm

Từ vùng quê nghèo đầy gian khó, thôn Cốc Râm, xã Mường Khương hôm nay đang "khoác" lên mình diện mạo mới với những nhà xây cao tầng khang trang và tuyến đường bê tông phẳng phiu. Sự thay đổi rõ nét trong tư duy phát triển kinh tế và những chính sách hỗ trợ kịp thời của Nhà nước đã tạo nên sức sống mới, tươi sáng trên vùng cao này.

Thúc đẩy cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp

Thúc đẩy cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp

Cùng với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nông dân Lào Cai đang chú trọng ứng dụng máy móc, cơ giới hóa vào các khâu trong quy trình sản xuất nông nghiệp, từ trồng trọt, chăn nuôi đến chế biến nông, lâm sản. Qua đó, góp phần giải phóng sức lao động, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.

Kỳ vọng về một con đường phát triển bền vững

Kỳ vọng về một con đường phát triển bền vững

Ngày 03/02/2026, Tỉnh uỷ Lào Cai ban hành 2 Nghị quyết chuyên đề quan trọng về phát triển giao thông nông thôn và dược liệu trên địa bàn tỉnh. Với những quyết sách, định hướng, mục tiêu chiến lược cụ thể, người dân vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh đang gửi gắm niềm tin, kỳ vọng vào một con đường phát triển bền vững, rút ngắn khoảng cách chênh lệch vùng miền.

Người dân thôn Làng Quạch, xã Mậu A chung sức làm đường giao thông nông thôn.

Phát huy vai trò chủ thể của người dân trong làm đường giao thông nông thôn

Giao thông là huyết mạch của nền kinh tế. Ở các khu vực nông thôn, vùng cao, sự phát triển của hệ thống giao thông nông thôn giữ vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, việc nâng cấp và mở mới đường giao thông ở nhiều địa phương đã trở thành động lực quan trọng giúp nông thôn chuyển mình.

Giữ chân lao động trẻ nông thôn

Giữ chân lao động trẻ nông thôn

Ở phường Cầu Thia (tỉnh Lào Cai), không ít bạn trẻ người dân tộc thiểu số đã chọn bám đất, bám nương, mạnh dạn thay đổi cách nghĩ, cách làm, tận dụng lợi thế sẵn có để gây dựng sinh kế ngay trên chính mảnh đất quê hương.

Từ xuất khẩu thô đến thương hiệu tinh dầu quốc tế

Từ xuất khẩu thô đến thương hiệu tinh dầu quốc tế

Lào Cai đang đứng trước bước ngoặt quan trọng trong chiến lược nâng tầm giá trị cây quế. Với diện tích quy hoạch hướng tới 150.000 ha, tỉnh không còn chấp nhận là vùng nguyên liệu thô, mà đang quyết liệt chuyển sang chế biến sâu, hình thành hệ sinh thái sản xuất công nghệ cao nhằm đưa sản phẩm tinh dầu và đồ thủ công mỹ nghệ vươn ra thị trường quốc tế.

Nguy cơ ô nhiễm suối đầu nguồn

Nguy cơ ô nhiễm suối đầu nguồn

Những dòng suối đầu nguồn vốn được ví như mạch sống của núi rừng. Từ bao đời nay, nguồn nước ấy nuôi dưỡng ruộng đồng, cung cấp nước sinh hoạt và giữ vai trò điều hòa hệ sinh thái cho cả một vùng rộng lớn phía hạ lưu. Thế nhưng, những dòng suối đầu nguồn ở một số địa phương đang đối diện nguy cơ ô nhiễm ngày càng rõ rệt.

Người Mông giữ rừng

Người Mông giữ rừng

Từ chỗ coi rừng là kho sản vật vô tận để tận thu, đến nay, nhận thức của đồng bào người Mông tại thôn Nả Háng Tâu, xã Púng Luông đã có sự chuyển biến căn bản. Rừng không chỉ được bảo vệ nghiêm ngặt bằng quy ước, hương ước mà còn trở thành “nguồn sống”, mở ra sinh kế bền vững thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Chấn Thịnh phát triển chăn nuôi hàng hóa, tạo sinh kế bền vững

Chấn Thịnh phát triển chăn nuôi hàng hóa, tạo sinh kế bền vững

Xác định chăn nuôi là trụ cột trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xã Chấn Thịnh đang tập trung phát triển theo hướng hàng hóa, quy mô gia trại, trang trại, gắn với kiểm soát dịch bệnh và bảo đảm đầu ra sản phẩm. Từ cách làm bài bản, đồng bộ, chăn nuôi không chỉ nâng cao thu nhập cho người dân mà còn trở thành đòn bẩy quan trọng trong mục tiêu giảm nghèo bền vững của địa phương.

Quy Mông phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết

Quy Mông phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết

Xã Quy Mông (tỉnh Lào Cai) đang từng bước khẳng định hướng đi đúng đắn khi lựa chọn phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết, lấy nông nghiệp xanh và chuỗi giá trị làm nền tảng. Không còn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, địa phương xác định tổ chức lại sản xuất, gắn vùng nguyên liệu với chế biến và thị trường tiêu thụ, từ đó nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho người dân.

Gỡ nút thắt chuỗi giá trị nông nghiệp ở Trấn Yên

Gỡ nút thắt chuỗi giá trị nông nghiệp ở Trấn Yên

Chuyển từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe, tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc trở thành điều kiện bắt buộc. Với Trấn Yên, khi vùng nguyên liệu đã hình thành khá rõ nét, bài toán đặt ra không còn là mở rộng diện tích, mà là hoàn thiện chuỗi giá trị để nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản.

fb yt zl tw