Lan tỏa phong trào vượt khó thoát nghèo

Với sự tiếp sức của Nhà nước thông qua các chương trình cho vay vốn ưu đãi cùng với quyết tâm thoát nghèo, nhiều người dân vùng dân tộc thiểu số, miền núi đã vượt qua khó khăn, xây dựng được cuộc sống ổn định, vươn lên làm giàu. Họ chính là những nhân chứng sống động lan tỏa tinh thần vượt khó, xóa đói, giảm nghèo, làm giàu chính đáng trong cộng đồng của mình.

Lan tỏa phong trào vượt khó thoát nghèo ảnh 1

Nhiều diện tích đất đồi dốc ở các xã miền núi của tỉnh Sơn La đã được chuyển đổi sang trồng cây ăn quả cho giá trị kinh tế cao. Ảnh: Bích Nguyên

Thoát nghèo nhờ vốn vay ưu đãi

Anh Hứa Văn Xuân là một trong những tấm gương điển hình về ý chí vươn lên thoát nghèo trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở xã nghèo Niêm Sơn, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Anh Xuân vốn sinh ra trong một gia đình thuần nông, đông anh chị em tại thôn Nà Giáo. Từ thôn tới trung tâm xã phải vượt qua quãng đường núi dài gần 10km vô cùng vất vả. Điều kiện tự nhiên bất lợi, địa hình chia cắt, đất canh tác ít, khí hậu khắc nghiệt là những yếu tố khách quan khiến cho việc phát triển kinh tế của gia đình anh Xuân và người dân ở đây gặp rất nhiều khó khăn.

Năm 2014, anh Xuân lập gia đình với hai bàn tay trắng, vốn liếng chỉ là nương rẫy, ruộng bậc thang chưa được cải tạo. Đời sống của gia đình anh đã trải qua những ngày rất vất vả, nhưng không vì thế mà anh lùi bước. Năm 2016, với sự hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt là chương trình thanh niên khởi nghiệp, anh Xuân được vay ưu đãi 150 triệu đồng để phát triển sản xuất.

“Với sự tư vấn của chính quyền xã và Huyện đoàn Mèo Vạc, tôi đã mua 7 con bò cái sinh sản, phần tiền còn lại, tôi dùng sửa chữa chuồng trại. Vợ chồng tôi tận dụng nương rẫy bỏ hoang để trồng cỏ cho bò. Sau 2 năm thực hiện, mô hình chăn nuôi kết hợp với trồng lúa giúp tôi trả được vốn vay. Phần tiền lãi, tôi tiếp tục đầu tư xây dựng một cửa hàng tạp hóa nhỏ phục vụ nhu yếu phẩm cho nhân dân. Hiện nay, gia đình tôi có mức thu nhập ổn định từ 20-30 triệu đồng/tháng” - anh Xuân kể.

Nhìn lại cơ ngơi có được như hiện nay, anh Xuân giãi bày: “Có được thành công như vậy, bản thân tôi rất cảm ơn Đảng và Nhà nước đã kịp thời hỗ trợ nguồn vốn giúp những gia đình nghèo như tôi có vốn để phát triển sản xuất. Cấp ủy, chính quyền địa phương luôn quan tâm, cử cán bộ chuyên môn thường xuyên tới nhà hướng dẫn kỹ thuật, định hướng phát triển sản xuất. Từ đó, gia đình tôi có thêm động lực vươn lên thoát nghèo”.

Cũng với sự trợ lực từ Nhà nước, ông Hoàng Văn Đáo, trú tại bản Chiềng Ban 2, xã Mường Kim, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu đã vượt qua nghịch cảnh, tự cố gắng vươn lên trong lao động sản xuất, thoát được cảnh đói nghèo.

Ông kể: “Gia đình tôi vốn là một trong những hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của xã. 2 vợ chồng tôi và 4 người con sinh sống trong căn nhà tạm 2 gian. Bản thân tôi từ khi sinh ra đã bị hỏng một bên mắt nên khó khăn trong lao động sản xuất, mọi công việc nặng nhọc trong gia đình đều đặt lên vai người vợ. Thu nhập của cả gia đình phụ thuộc hoàn toàn vào cây lúa, cây ngô, cây sắn. Do không nắm vững kỹ thuật sản xuất nên năng suất cây trồng của gia đình tôi rất thấp”.

Sự thay đổi bắt đầu khi Nhà nước tăng cường đầu tư cho công tác giảm nghèo bền vững ở vùng núi. “Nhà nước hỗ trợ địa phương chúng tôi làm đường liên thôn bản giúp người dân đi lại thuận tiện; xây dựng các công trình thủy lợi cung cấp đủ nước tưới tiêu cho đồng ruộng... Chúng tôi còn được hỗ trợ máy móc, cây, con giống để phục vụ sản xuất, chăn nuôi. Bản thân tôi được học các lớp đào tạo nghề và được tập huấn kiến thức về chăn nuôi, trồng trọt, giới thiệu các mô hình phát triển kinh tế hiệu quả. 2 người con của tôi được chính quyền giúp đỡ, giới thiệu đi làm việc tại các công ty với mức lương từ 5 đến 7 triệu đồng/tháng. Tôi xây được nhà, mua sắm máy xát gạo và máy tuốt lúa để phục vụ kinh doanh. Đến năm 2019, gia đình tôi đã thoát nghèo, hiện nay là hộ khá trong thôn bản” - ông Đáo vui vẻ kể.

Chuyển đổi cây trồng để làm giàu

Vượt qua đoạn đường đất dốc nhỏ hẹp không quá xa, chúng tôi đã tới khu vườn đồi của ông Bạc Cầm Dung, 52 tuổi, ở xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Khu vườn của ông xanh mướt một màu, cam và bưởi đang ra quả. Chúng tôi gọi mãi mới nghe tiếng ông trả lời từ bên vườn nhãn.

Lan tỏa phong trào vượt khó thoát nghèo ảnh 2

Ông Bạc Cầm Dung bên vườn cam của gia đình. Ảnh: Bích Nguyên

Ông Dung trước kia là lính Biên phòng, sau chuyển sang làm cán bộ Công an xã Mường Lạn rồi nghỉ hưu. Ban đầu, ông trồng ngô, sắn như bao người dân khác ở xã Mường Lạn. “Các loại cây trồng truyền thống đó rất dễ trồng nhưng giá trị kinh tế không cao. Làm cả năm cũng chỉ được chưa tới 20 triệu đồng” - ông Dung kể.

Với vốn kiến thức tích lũy được qua đọc báo, xem ti vi, từ năm 2017, ông Dung mạnh dạn chuyển đổi phần lớn diện tích trồng sắn, ngô trước đây sang trồng cây ăn quả. Để đảm bảo chắc ăn, ông lựa chọn các giống cây phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ở địa phương, trong đó, có cả các loại cây đặc sản của quê hương mình. Đến nay, khu vườn đồi của ông có 800 cây cam, 800 cây xoài, 1.500 cây nhãn, hơn 500 cây mận hậu và mận tam hoa. Từ năm 2020, vườn cam của gia đình ông Dung bắt đầu cho thu hoạch. “Năm đầu tiên, tôi thu được hơn 3 tấn quả, bán được hơn 30 triệu đồng, vườn xoài cho thu hoạch 1,7 tấn quả, thu về hơn 10 triệu đồng” - ông Dung cho biết.

Ông Dung tâm sự: “Chăm sóc cây ăn quả vất vả hơn so với trồng sắn, ngô nhưng bù lại được giá cao hơn. Tôi phải lên mạng internet xem họ trồng, chăm sóc cây rồi học theo. Đến nay, tôi đã đầu tư hơn 300 triệu đồng vào hơn 2ha vườn cây ăn quả này. Điều làm nông dân chúng tôi sợ nhất là mua phải phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giả. Đợt trước, tôi phun thuốc giữ quả cho cam, nhưng không hiểu sao phun thuốc xong lại bị rụng quả rất nhiều. Tôi chỉ mong mưa thuận, gió hòa để vườn cây sinh trưởng, phát triển tốt. Nếu thời tiết thuận lợi, mình lại có ý chí, bỏ công, bỏ sức thì không bao giờ lo đói nghèo cả”.

Ngoài vườn cây ăn quả, ông Dung còn đầu tư nuôi trâu và lợn sinh sản. Tính chung, thu nhập từ mô hình vườn chuồng của ông Dung cho thu nhập gần 100 triệu đồng/năm. Nhìn thấy hiệu quả kinh tế mang lại từ mô hình phát triển sản xuất của gia đình ông Dung, nhiều hộ dân trong xã Mường Lạn đã học theo, dần chuyển đổi diện tích trồng sắn, ngô sang các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao để xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu.

Biên Phòng

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai sau một năm thi công

Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai sau một năm thi công

Sau một năm kể từ ngày khởi công (1/10/2025), Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đoạn Yên Bái - Lào Cai đang bước vào giai đoạn thi công nước rút. Nhiều hạng mục quan trọng đã cơ bản hoàn thành, hình hài tuyến cao tốc 4 làn xe dài hơn 121 km đang dần hiện rõ trên công trường.

Tiết học biên cương nơi sông Hồng chảy vào đất Việt

Tiết học biên cương nơi sông Hồng chảy vào đất Việt

Sáng 1/10, tại cột cờ Lũng Pô, xã A Mú Sung, tỉnh Lào Cai, học sinh Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS A Mú Sung tham gia “Tiết học biên cương”, tìm hiểu đường biên, mốc quốc giới, quan sát bộ đội thực hành tuần tra và tham gia lễ chào cờ. Qua trải nghiệm thực tế, các em hiểu thêm quê hương, công việc của người lính và trách nhiệm gìn giữ biên giới quốc gia.

Bài cuối: Dựa vào sức dân “giữ sạch” địa bàn

QUYẾT TÂM XÂY DỰNG “THẾ TRẬN” KHÔNG MA TUÝ Bài cuối: Dựa vào sức dân “giữ sạch” địa bàn

Giữ sạch địa bàn không chỉ bằng những đợt truy quét, xử lý mà cần sức mạnh từ mỗi gia đình, khu dân cư. Khi người dân chủ động phòng ngừa, phát hiện, cung cấp thông tin và cùng hỗ trợ người sau cai tái hòa nhập, một “thế trận lòng dân” đang được hình thành để ngăn ma túy quay trở lại.

Bài 1: Cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở

Quyết tâm xây dựng “thế trận” không ma tuý Bài 1: Cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở

Lào Cai đã triển khai cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng 100% xã, phường không ma túy trong năm 2026. Nghị quyết 51 - NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy được cụ thể hóa bằng việc huy động cả hệ thống chính trị, dồn lực giải quyết những điểm khó và gắn kết quả với trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy.

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Ở những bản làng người Bố Y hôm nay, hạnh phúc là cuộc sống đủ đầy, là tiếng nói, trang phục, phong tục và sự gắn kết cộng đồng được gìn giữ, trao truyền qua các thế hệ. Giữa nhịp sống hiện đại, người Bố Y ở Mường Khương đang từng bước dựng xây cuộc sống ấm no, đồng thời lưu giữ và phát huy niềm tự hào nguồn cội. Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh Lào Cai trân trọng giới thiệu loạt bài (2 kỳ) “Bản làng hạnh phúc của người Bố Y”.

Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y: Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Ở Thính Chéng, xã Mường Khương khi nhắc đến văn hóa của dân tộc Bố Y, người ta thường tìm đến bà Lồ Lài Sửu. Ngoài 60 tuổi, bà vẫn miệt mài sưu tầm, ghi nhớ những làn điệu dân ca, phong tục, nghi lễ của dân tộc mình. Mỗi lần nói về người Bố Y, về giá trị văn hóa đã theo mình suốt cuộc đời, bà Sửu vẫn rưng rưng xúc động. 

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Xác định tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ quan trọng, thể hiện trách nhiệm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỉnh Lào Cai đã huy động cả hệ thống chính trị cùng chung tay tìm kiếm, đưa các chiến sĩ cách mạng còn nằm lại nơi chiến trường trở về với gia đình, quê hương.

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Xã Tằng Loỏng là địa bàn đông dân cư, tập trung Khu công nghiệp luyện kim, hóa chất trọng điểm của quốc gia và tỉnh, với nhiều doanh nghiệp, nhà máy đang hoạt động. Thế nhưng, giữa nhịp phát triển công nghiệp sôi động, người dân và công nhân lao động vẫn phải mua bán trong một khu chợ tạm hình thành từ nhiều năm trước. Sự thiếu hụt hạ tầng thương mại đang trở thành nghịch lý cần được giải quyết.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

fb yt zl tw