Nguồn vào hạn chế, 11 hồ tích nước ở mức thấp

Theo báo cáo kết quả quan trắc của các cơ quan chuyên môn, đầu tháng 5, trong tổng số 107 hồ chứa thủy lợi trên địa bàn tỉnh có 88 hồ hiện tích nước trên 50% tổng dung tích, 19 hồ tích dưới 50% (có 8 hồ không tích nước, 11 hồ tích nước ở mức thấp do nguồn vào hạn chế).

Thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thường xuyên đôn đốc, kiểm tra tổ quản lý khai thác các công trình thủy lợi thực hiện quản lý, vận hành điều tiết nước, tu bổ, phát dọn, nạo vét công trình. Các cơ quan chuyên môn đã chủ động theo dõi, nắm bắt thông tin thời tiết, theo dõi mực nước trên các đầu mối công trình và trong hồ chứa hàng ngày, đảm bảo an toàn công trình trước mùa mưa lũ.

Hồ thùy lợi.jpg
Một hồ chứa nước tại xã Phong Niên (Bảo Thắng) giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiết nước sản xuất.

Tổng hợp kết quả quan trắc mực nước 107 hồ chứa thủy lợi cập nhật đến ngày 2/5/2024 thì hiện nay 88 hồ tích nước trên 50% tổng dung tích, 19 hồ tích dưới 50% (có 8 hồ không tích nước và 11 hồ tích nước ở mức thấp).

8 hồ không tích được nước với nhiều nguyên nhân gồm: hồ Cốc Lay, xã Cam Cọn, huyện Bảo Yên (nằm trong quy hoạch sân bay); hồ Na Cồ, thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà (đang thi công sửa chữa); hồ Nậm Trì, xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà (đã bị bồi lắng, không tích được nước); hồ Hóa Chư Phùng, xã Quan Hồ Thẩn và hồ Cán Cấu, xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai (không tích nước); hồ Ông Lừu, xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai (đã bị bồi lắng, không tích được nước); hồ Thôn Múc, xã Thái Niên, huyện Bảo Thắng (đã bị san lấp); hồ Bồ Lũng, xã Lùng Vai, huyện Mường Khương (hồ không tích nước và không phục vụ tưới).

mực nước.jpg
Mực nước tại các hồ thủy lợi được theo dõi thường xuyên.

Có 11 hồ tích nước ở mực nước thấp do nguồn nước đầu vào ít gồm: hồ Tảo Giàng 2, xã Lùng Vai, huyện Mường Khương (dung tích nước trong hồ 30%); hồ Ngải Thầu, xã Dìn Chin, huyện Mường Khương (dung tích nước trong hồ 30%); hồ Na Ri, xã Bản Sen, huyện Mường Khương (dung tích nước trong hồ 15%); hồ tổ 1A, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên (dung tích nước trong hồ 40%); hồ Tân Văn, xã Kim Sơn, huyện Bảo Yên (dung tích nước trong hồ 30%); hồ Bảo Ân 2, xã Kim Sơn, huyện Bảo Yên (dung tích nước trong hồ 40%); hồ Làng Mủng, xã Tân Dương, huyện Bảo Yên (dung tích nước trong hồ 30%); hồ Khuổi Lếch, xã Vĩnh Yên, huyện Bảo Yên (dung tích nước trong hồ 30%); hồ Na Đò, xã Tân Dương, huyện Bảo Yên (dung tích nước trong hồ 40%); hồ Vĩ Kẽm, xã Quang Kim, huyện Bát Xát (dung tích nước trong hồ 10%); hồ Bơ, xã Khánh Yên Trung, huyện Văn Bàn (dung tích nước trong hồ 10%).

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Từ cây cứu đói đến nguyên liệu công nghiệp thực phẩm

Từ cây cứu đói đến nguyên liệu công nghiệp thực phẩm

Từ vai trò lịch sử là cây trồng cứu đói, cây sắn hiện nay đã khẳng định vị thế là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến tinh bột. Tại xã Đông Cuông, sự liên kết chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp và các hộ nông dân đang tạo ra sinh kế ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho người dân vùng khó.

Sắc màu tươi sáng ở Cốc Râm

Sắc màu tươi sáng ở Cốc Râm

Từ vùng quê nghèo đầy gian khó, thôn Cốc Râm, xã Mường Khương hôm nay đang "khoác" lên mình diện mạo mới với những nhà xây cao tầng khang trang và tuyến đường bê tông phẳng phiu. Sự thay đổi rõ nét trong tư duy phát triển kinh tế và những chính sách hỗ trợ kịp thời của Nhà nước đã tạo nên sức sống mới, tươi sáng trên vùng cao này.

Thúc đẩy cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp

Thúc đẩy cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp

Cùng với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nông dân Lào Cai đang chú trọng ứng dụng máy móc, cơ giới hóa vào các khâu trong quy trình sản xuất nông nghiệp, từ trồng trọt, chăn nuôi đến chế biến nông, lâm sản. Qua đó, góp phần giải phóng sức lao động, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.

Kỳ vọng về một con đường phát triển bền vững

Kỳ vọng về một con đường phát triển bền vững

Ngày 03/02/2026, Tỉnh uỷ Lào Cai ban hành 2 Nghị quyết chuyên đề quan trọng về phát triển giao thông nông thôn và dược liệu trên địa bàn tỉnh. Với những quyết sách, định hướng, mục tiêu chiến lược cụ thể, người dân vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh đang gửi gắm niềm tin, kỳ vọng vào một con đường phát triển bền vững, rút ngắn khoảng cách chênh lệch vùng miền.

Người dân thôn Làng Quạch, xã Mậu A chung sức làm đường giao thông nông thôn.

Phát huy vai trò chủ thể của người dân trong làm đường giao thông nông thôn

Giao thông là huyết mạch của nền kinh tế. Ở các khu vực nông thôn, vùng cao, sự phát triển của hệ thống giao thông nông thôn giữ vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, việc nâng cấp và mở mới đường giao thông ở nhiều địa phương đã trở thành động lực quan trọng giúp nông thôn chuyển mình.

Giữ chân lao động trẻ nông thôn

Giữ chân lao động trẻ nông thôn

Ở phường Cầu Thia (tỉnh Lào Cai), không ít bạn trẻ người dân tộc thiểu số đã chọn bám đất, bám nương, mạnh dạn thay đổi cách nghĩ, cách làm, tận dụng lợi thế sẵn có để gây dựng sinh kế ngay trên chính mảnh đất quê hương.

Từ xuất khẩu thô đến thương hiệu tinh dầu quốc tế

Từ xuất khẩu thô đến thương hiệu tinh dầu quốc tế

Lào Cai đang đứng trước bước ngoặt quan trọng trong chiến lược nâng tầm giá trị cây quế. Với diện tích quy hoạch hướng tới 150.000 ha, tỉnh không còn chấp nhận là vùng nguyên liệu thô, mà đang quyết liệt chuyển sang chế biến sâu, hình thành hệ sinh thái sản xuất công nghệ cao nhằm đưa sản phẩm tinh dầu và đồ thủ công mỹ nghệ vươn ra thị trường quốc tế.

Nguy cơ ô nhiễm suối đầu nguồn

Nguy cơ ô nhiễm suối đầu nguồn

Những dòng suối đầu nguồn vốn được ví như mạch sống của núi rừng. Từ bao đời nay, nguồn nước ấy nuôi dưỡng ruộng đồng, cung cấp nước sinh hoạt và giữ vai trò điều hòa hệ sinh thái cho cả một vùng rộng lớn phía hạ lưu. Thế nhưng, những dòng suối đầu nguồn ở một số địa phương đang đối diện nguy cơ ô nhiễm ngày càng rõ rệt.

Người Mông giữ rừng

Người Mông giữ rừng

Từ chỗ coi rừng là kho sản vật vô tận để tận thu, đến nay, nhận thức của đồng bào người Mông tại thôn Nả Háng Tâu, xã Púng Luông đã có sự chuyển biến căn bản. Rừng không chỉ được bảo vệ nghiêm ngặt bằng quy ước, hương ước mà còn trở thành “nguồn sống”, mở ra sinh kế bền vững thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Chấn Thịnh phát triển chăn nuôi hàng hóa, tạo sinh kế bền vững

Chấn Thịnh phát triển chăn nuôi hàng hóa, tạo sinh kế bền vững

Xác định chăn nuôi là trụ cột trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xã Chấn Thịnh đang tập trung phát triển theo hướng hàng hóa, quy mô gia trại, trang trại, gắn với kiểm soát dịch bệnh và bảo đảm đầu ra sản phẩm. Từ cách làm bài bản, đồng bộ, chăn nuôi không chỉ nâng cao thu nhập cho người dân mà còn trở thành đòn bẩy quan trọng trong mục tiêu giảm nghèo bền vững của địa phương.

Quy Mông phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết

Quy Mông phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết

Xã Quy Mông (tỉnh Lào Cai) đang từng bước khẳng định hướng đi đúng đắn khi lựa chọn phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết, lấy nông nghiệp xanh và chuỗi giá trị làm nền tảng. Không còn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, địa phương xác định tổ chức lại sản xuất, gắn vùng nguyên liệu với chế biến và thị trường tiêu thụ, từ đó nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho người dân.

Gỡ nút thắt chuỗi giá trị nông nghiệp ở Trấn Yên

Gỡ nút thắt chuỗi giá trị nông nghiệp ở Trấn Yên

Chuyển từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe, tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc trở thành điều kiện bắt buộc. Với Trấn Yên, khi vùng nguyên liệu đã hình thành khá rõ nét, bài toán đặt ra không còn là mở rộng diện tích, mà là hoàn thiện chuỗi giá trị để nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản.

fb yt zl tw