Quay về E-magazine Theo dõi Báo Lào Cai trên Google News

Lãng du phố mỏ Cam Đường

lang-du-pho-mo-cam-duong-3.png

Với tôi, cái tên phố mỏ Cam Đường mà nhiều người thường gọi để chỉ khu phố Mỏ Apatit Lào Cai nghe thật gần gũi, thân thương. Thành phố ngày một rộng dài, dọc ngang kết nối, thế mà tôi lại thấy chạnh lòng, hình như phố mỏ cứ khiêm nhường và dần nhỏ bé hơn xưa.

Gọi là phố mỏ Cam Đường theo tên cũ xưa chứ thực ra nơi đây chỉ vẻn vẹn có vài ba con phố mà trục chính là đường Hoàng Quốc Việt, đoạn kéo dài từ cầu chui Bắc Lệnh đến Bến Đá. Phố mỏ nằm gọn một phần thuộc phường Bắc Lệnh rồi vắt sang phường Pom Hán, trung tâm là khu tượng đài, sân vận động, nhà truyền thống cùng với mấy nhánh đường mang cái tên rất mộc mạc, chân quê: Bến Đá, Giàn Than, Cầu Gồ, dốc Ba Tầng…

Từ đỉnh đồi truyền hình nhìn xuống, dáng phố mỏ liêu xiêu tựa kẻ lãng du lúc tỉnh, lúc say; những mái nhà vịn vào triền đồi theo hàng, theo lối giống như nét thanh, nét đậm trong bức ký họa ruộng bậc thang. Không phải Sa Pa cũng chẳng phải Bắc Hà, ấy thế mà có những sớm mai thức dậy, chợt thấy mây bay ùa vào ngõ nhỏ, tôi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp huyền ảo, hư vô. Phố núi của tôi như thực như mơ, như gọi mời lữ khách đến thỏa đam mê, nơi có cái tên mới nghe đã thấy cả vị dịu chua và dịu ngọt - thị xã Cam Đường.

Ngược dòng thời gian, phố mỏ Cam Đường vốn là trung tâm của vùng đất mỏ với những khu nhà xây cho các chuyên gia Liên Xô ở từ những năm 60 của thế kỷ trước, nhiều người gọi mãi thành quen nên mới có tên gọi phố Tây. Quanh phố Tây là những khu nhà tập thể dành cho công nhân ở, đến nay vẫn còn in đậm dấu thời gian, như chứng nhân của một thời bao cấp, trở thành hiện vật “quý hiếm” khó còn tìm thấy ở bất cứ nơi đâu. Cũ kỹ là vậy mà phố mỏ lại mang trong mình sự hối hả của nhịp sống công nghiệp, bởi những chuyến xe giao ca xuyên đêm bất kể mưa dông giá rét, những hồi còi giục giã của đoàn tàu chở quặng vào ga và còn nữa là màu xanh sắc áo công nhân, tất cả trở thành thanh âm, sắc màu cuộc sống.

lang-du-pho-mo-cam-duong-5.png

Có một chút gì đó cũng rất riêng khi nói về phố mỏ, ấy là ở đây vẫn tìm thấy nét văn hóa cộng đồng từa tựa làng quê. Ví như khi bạn hỏi thăm địa chỉ một người ở đầu phố mà ai đó ở tận cuối phố vẫn có thể biết tận tường và chỉ dẫn đến nơi. Chuyện tưởng lạ nhưng là có thật, vì cư dân nơi đây họ đều biết đến nhau. Họ biết nhau do làm cùng xí nghiệp hay cùng đơn vị sản xuất, hoặc nữa là đồng hương, cùng gắn bó một thời. Rất nhiều và rất nhiều cái cùng để mà biết, để mà thân, để mà “có họ” - ấy là cách ví von của người dân phố mỏ vẫn thường đùa nhau những lúc tề tựu đông vui. Rồi cũng còn một lẽ rất giản đơn để lý giải vì sao họ sống với nhau rất “tình làng, nghĩa xóm”, bởi cùng chung khu tập thể, ngõ hẹp phải nhịn nhường đến cả lối đi, đôi khi vẫn nhường cho nhau từng xô nước và còn nhiều cái phải nhịn nhường vì thời bao cấp rất khó khăn, nương tựa vào nhau trở thành nếp sống hằng ngày và nét đẹp ấy vẫn còn lưu giữ đến tận hôm nay.

Ảnh tư liệu.
Ảnh tư liệu.

Kể về phố mỏ Cam Đường chưa thật đủ đầy nếu chưa nói về tượng đài người thợ mỏ. Tôi có anh bạn là họa sỹ công tác tại Báo Lao Động. Anh là học trò nhà điêu khắc Vũ Tiến - tác giả công trình nghệ thuật Tượng đài “Vinh quang thuộc về các thế hệ công nhân Mỏ Apatit Lào Cai”. Thời gian anh làm phụ tá cho thầy Vũ Tiến đã nhiều lần đến Lào Cai, chúng tôi thường gặp nhau bên ấm trà, ly rượu và tôi cũng được nghe anh kể chuyện hậu kỳ quanh việc thiết kế, chọn mẫu, chọn đá rồi quá trình điêu khắc tượng đài. Ấy thế mà khi tản bộ quanh sân vận động, tôi chợt giật mình ngỡ ngàng khi có người chỉ tay và khoe với bạn “kia là tượng của mình”. Tìm hiểu ra mới biết là họ được chọn chụp hình để nhà điêu khắc và lãnh đạo công ty chọn mẫu, làm ý tưởng cho việc sáng tạo tác phẩm điêu khắc tượng đài cùng với bức phù điêu. Thực hư thế nào thì tôi chưa thật rõ, nhưng có điều chắc chắn rằng “tượng đài là niềm tự hào của bao thế hệ công nhân Mỏ Apatit Lào Cai”. Vậy thì người thợ mỏ nào mà chẳng thấy hình bóng của mình trong đó.

6-6955.png

Nhân đây, tôi xin được kể câu chuyện lịch sử có ý nghĩa như một tượng đài được khắc ghi trong trái tim người dân đất mỏ, sự kiện gắn liền với địa danh ga Pom Hán. Đó là vào sáng 23 tháng 9 năm 1958, có một đoàn tàu hỏa “đặc biệt” xuất phát từ ga Pom Hán đến phà Làng Giàng đón Bác Hồ vào thăm mỏ Apatit Lào Cai. Ngày đó đã trở thành mốc son lịch sử - ngày truyền thống của công ty, ngày hội của người dân đất mỏ. Nhưng điều diệu kỳ hơn là đoàn tàu với toa xe Va goong chuyên dùng chở quặng đã được chở một Vĩ nhân, có lẽ trên thế giới chỉ có Bác Hồ - vị lãnh tụ của Nhân dân mới bình dị, đời thường đến vậy.



Một ngày mới lại về trên vùng đất mỏ thân yêu, thanh âm cuộc sống ngập tràn, nghe ngân nga giai điệu vừa lạ vừa quen của một nhạc phẩm về vùng đất mỏ, hình như là của tác giả Bùi Văn Việt, ông từng làm Tổng Giám đốc Công ty Apatit Việt Nam. Có ai đó đã kể với tôi là ông Việt sáng tác hàng chục ca khúc về vùng đất mỏ và có người còn bảo, ông ấy làm Tổng Giám đốc thì sáng tác cái gì mà chẳng được khen. Nhưng với tôi, nghe những ca khúc vừa lạ vừa quen khi ấy lại cảm nhận được tình yêu vùng đất mỏ trong ông. Chả thế mà các thế hệ công nhân, nhiều người đến nay vẫn thường nhắc tới ông với những lời chân tình, quý mến. Phải chăng đó là cái nghĩa, cái tình của người thợ mỏ dành cho các thế hệ lãnh đạo có nhiều đóng góp cho vùng đất mỏ hôm nay.

7-4515.png

Lãng du trên phố lất phất mưa bay, hình như đất trời đã chuyển sang xuân, dãy bằng lăng mới hôm nào còn sắc hoa rực rỡ, nhuộm tím cả khoảng trời trung tâm phố mỏ, nay lại thấy khẳng khiu, chớm bật chồi non. Thế mới biết trời đất xoay vần hệt như con tạo, mùa cứ qua mùa xuân - hạ - thu - đông; năm tháng cứ đuổi theo nhau đẩy thời gian đến dài vô tận. Trong mênh mang dự cảm, tôi chợt thấy dáng hình phố mỏ Cam Đường mai mốt cứ dần xa và để rồi chỉ còn trong ký ức thời gian.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Xác định tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ quan trọng, thể hiện trách nhiệm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỉnh Lào Cai đã huy động cả hệ thống chính trị cùng chung tay tìm kiếm, đưa các chiến sĩ cách mạng còn nằm lại nơi chiến trường trở về với gia đình, quê hương.

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Xã Tằng Loỏng là địa bàn đông dân cư, tập trung Khu công nghiệp luyện kim, hóa chất trọng điểm của quốc gia và tỉnh, với nhiều doanh nghiệp, nhà máy đang hoạt động. Thế nhưng, giữa nhịp phát triển công nghiệp sôi động, người dân và công nhân lao động vẫn phải mua bán trong một khu chợ tạm hình thành từ nhiều năm trước. Sự thiếu hụt hạ tầng thương mại đang trở thành nghịch lý cần được giải quyết.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Từ khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, điều thay đổi quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích hay quy mô dân số mà còn tạo ra không gian phát triển lớn hơn cho tỉnh Lào Cai mới. Trong không gian đó, đầu tư hạ tầng giữ vai trò kết nối các vùng động lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản và kinh tế cửa khẩu, hướng tới mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Sức sống mới nơi thượng nguồn Lũng Pô Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Trên hành trình ngược suối Lũng Pô với chiều dài hơn 30 km từ thôn Lũng Pô (xã A Mú Sung) đến thôn Hồng Ngài (xã Y Tý), cùng với cảm nhận về sự đổi thay ở những vùng đất bên dòng suối biên giới, điều làm chúng tôi tự hào là khung cảnh bình yên hiện hữu khắp dải biên cương xa xôi. Ở nơi ấy, dù đường biên giới dài và địa hình hiểm trở, những chiến sĩ biên phòng vẫn luôn chắc tay súng cùng đồng bào các dân tộc giữ bình yên biên giới.

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng mở ra không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân. Thế nhưng, do vướng mắc mặt bằng khiến tiến độ nhiều công trình bị ảnh hưởng, nguồn vốn đầu tư chưa được phát huy

fb yt zl tw