Sự ổn định và phát triển vùng chè nguyên liệu hiện tại phụ thuộc vào các yếu tố, như hình thức hợp tác thông qua sự liên kết chặt chẽ giữa các hộ nông dân với công ty chế biến chè và sự hỗ trợ của nhà khoa học, Nhà nước. Bên cạnh đó, còn phụ thuộc vào tính hấp dẫn về thu nhập từ sản xuất chè so với các sản phẩm khác trên diện tích đất canh tác của nông dân.
Việc các hộ nông dân tổ chức tốt hơn mô hình hợp tác giữa người nông dân với nhau và giữa nông dân với doanh nghiệp - nhà khoa học - chính quyền địa phương sẽ quyết định sự thành bại của sản xuất, kinh doanh chè. Theo tổ chức phát triển Hà Lan (đơn vị đang hỗ trợ Lào Cai đánh giá thực trạng quản lý vùng nguyên liệu chè), việc có vùng nguyên liệu ổn định, chất lượng cao sẽ giúp các công ty ổn định được sản xuất, áp dụng tiêu chuẩn chất lượng vào sản xuất, chế biến và xây dựng thương hiệu sản phẩm chè. Từ đó tiếp cận thị trường xuất khẩu tốt hơn, nâng cao giá bán và tạo thu nhập, việc làm ổn định và thu hút lao động nông thôn sản xuất chè.
Đánh giá của ngành nông nghiệp cho thấy, hiện việc quy hoạch phát triển chè còn thiếu tập trung, chất lượng vùng nguyên liệu thấp, giống và kỹ thuật sản xuất tiên tiến chưa được áp dụng nhiều dẫn đến năng suất bình quân chỉ bằng 69% năng suất bình quân của cả vùng sản xuất chè miền núi, trung du phía Bắc. Hiện tỉnh đã quy hoạch một số vùng trồng chè, nhưng hầu hết diện tích chè và đất trồng chè hiện do các hộ cá thể quản lý và sử dụng, nhiều diện tích không tập trung, hạ tầng giao thông, nước tưới đến các nương chè còn hạn chế nên gây khó khăn cho thâm canh, quản lý và tuân thủ quy trình sản xuất an toàn, chất lượng.
Vùng nguyên liệu chè Mường Khương có diện tích trên 1.000 ha, sản lượng chè búp tươi đạt khoảng 4.000 tấn, trong đó, Công ty TNHH một thành viên Chè Thanh Bình thu mua 2.800 tấn/năm. Hầu hết diện tích chè và đất trồng chè hiện tại trên địa bàn huyện đang thuộc quyền quản lý và sử dụng của nông dân địa phương. Ông Bùi Đức Rạng, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Chè Thanh Bình cho rằng: So sánh hai loại hình vùng nguyên liệu chè hiện nay, đó là vùng nguyên liệu do nông dân sản xuất và vùng chè doanh nghiệp quản lý do người lao động của công ty trực tiếp chăm sóc thì mô hình thứ hai mang lại giá trị sản xuất ổn định năng suất, chất lượng vượt trội so với vùng chè do nông dân làm chủ. Mặc dù vậy, doanh nghiệp không thể đề nghị Nhà nước chuyển đổi đất của nông dân cho doanh nghiệp. Vì vậy, để hài hòa trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nông dân, vấn đề cốt lõi là nâng cao thu nhập trên một công lao động cho nông dân.
Diện tích chè và đất chè tại vùng nguyên liệu huyện Bảo Thắng cũng đều do nông dân sử dụng và quản lý. Đây là một trong những vùng nguyên liệu lớn của tỉnh, nhưng nhiều năm qua, những khó khăn về quản lý vùng nguyên liệu ở khu vực này vẫn chưa tìm ra được giải pháp thực sự hiệu quả. Ông Vũ Văn Tuấn, Phó Chủ tịch UBND huyện Bảo Thắng cho biết: Giá giống, vật tư ngày càng tăng mạnh, nhưng giá bán chè tăng chậm không thu hút được nông dân đầu tư, thâm canh cho chè. Đây là vấn đề cần sớm được giải quyết, vì nếu giá trị thu nhập từ chè thấp, nông dân sẽ chuyển sang sản xuất các sản phẩm khác, chuyển đổi đất trồng chè sang loại cây trồng có giá trị cao hơn.
Cây chè đang tạo việc làm cho khoảng 10.000 lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh với mức thu nhập ổn định, đóng góp tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo. Mục tiêu phát triển chè đến năm 2015 của tỉnh là mở rộng và nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu gắn với chế biến sản phẩm chè chất lượng cao, đặc biệt chú trọng việc áp dụng quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) cho sản xuất chè. Để thực hiện tốt mục tiêu này thì việc tổ chức vùng nguyên liệu cần phải đi trước một bước để có thể hình thành cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nông dân. Ông Phạm Đình Quê, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng: Xây dựng vùng nguyên liệu chè cần phải có quy hoạch hợp lý, không chạy theo diện tích, sản lượng mà cần chú trọng chất lượng sản phẩm. Mục đích cuối cùng là nâng cao thu nhập cho người trồng chè, tăng thu nhập cho doanh nghiệp trong sản xuất và kinh doanh.