
Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp (sau đây gọi tắt là dự thảo Nghị định)
Bảy điểm mới về bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Việc làm
Bộ Nội vụ cho biết, chính sách bảo hiểm thất nghiệp được quy định lần đầu tiên tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2009.
Qua hơn 16 năm thực hiện, bảo hiểm thất nghiệp được đánh giá là một trong các chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, là một công cụ quản trị thị trường lao động hữu hiệu, gắn bó chặt chẽ với các chính sách việc làm, thị trường lao động chủ động, chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, chính sách tín dụng vay vốn tạo việc làm, dịch vụ việc làm, thông tin thị trường lao động,... với mục tiêu hỗ trợ người lao động bảo vệ vị trí việc làm, duy trì việc làm, phòng tránh thất nghiệp.
Bên cạnh đó, nếu gặp rủi ro về việc làm, chính sách bảo hiểm thất nghiệp có các biện pháp nhằm thay thế, bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi thất nghiệp.
Tính đến hết tháng 6/2025, cả nước có 16,42 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Kết dư Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp đến hết năm 2024 là 63.400 tỷ đồng.
Quan trọng hơn nữa là có các biện pháp để hỗ trợ người lao động tham gia học nghề để nâng cao trình độ kỹ năng nghề hoặc chuyển đổi nghề nghiệp; tư vấn, giới thiệu việc làm để người thất nghiệp nhanh chóng tìm được việc làm mới. Đồng thời, người thất nghiệp còn được hưởng chế độ bảo hiểm y tế, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội.
Tính đến hết tháng 6/2025, cả nước có 16,42 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Tất cả người thất nghiệp có nhu cầu tư vấn, giới thiệu việc làm đều được trung tâm dịch vụ việc làm tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; với 327.291 người được hỗ trợ học nghề và 10.416.025 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, kết dư Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp đến hết năm 2024 là 63.400 tỷ đồng.
Luật Việc làm năm 2025 có rất nhiều điểm mới về bảo hiểm thất nghiệp, với 7 nội dung cụ thể.
Một là, mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 1 tháng trở lên; người lao động làm việc không trọn thời gian; người quản lý doanh nghiệp, quản lý hợp tác xã.
Hai là, linh hoạt mức đóng bảo hiểm thất nghiệp: tối đa bằng 1% tiền lương tháng.
Ba là, bổ sung quy định về giảm tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với người sử dụng lao động khi tuyển mới và sử dụng người lao động là người khuyết tật.
Bốn là, bổ sung đối tượng tư vấn, giới thiệu việc làm đối với người đang bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Năm là, bổ sung hỗ trợ tiền ăn trong thời gian người lao động tham gia khoá đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.
Sáu là, bổ sung quy định về chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp, chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Bảy là, sửa đổi, bổ sung về điều kiện hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm,….
Bên cạnh đó, thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy của Chính phủ và địa phương cũng có nhiều thay đổi về nhiệm vụ, chức năng của các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp cần được điều chỉnh cho phù hợp.
Từ những căn cứ nêu trên, để có cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp thì cần thiết phải ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp.
Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng 0,9% mức tiền lương tháng
Dự thảo Nghị định gồm 9 chương, 50 điều, quy định chi tiết một số điều, khoản của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, bao gồm: khoản 9 Điều 33, khoản 5 Điều 34, khoản 4 Điều 35, khoản 2 Điều 36, khoản 5 Điều 37, khoản 2 Điều 38, khoản 5 Điều 39, khoản 2 Điều 40, khoản 6 Điều 41, khoản 4 Điều 42, khoản 5 Điều 46, khoản 3 Điều 47, Điều 48 của Luật Việc làm.
Đối tượng áp dụng là người lao động, người sử dụng lao động thuộc đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điều 31 Luật Việc làm.
So với quy định tại Nghị định số 28/2015/NĐ-CP và Nghị định số 61/2020/NĐ-CP, dự thảo Nghị định có những nội dung sửa đổi, hoàn thiện, bổ sung, lược bỏ như sau.
Thứ nhất, Bộ Nội vụ đề xuất sửa đổi, hoàn thiện 35/42 điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP (đã được bổ sung tại Nghị định số 61/2020/NĐ-CP) bao gồm các nội dung về: Phạm vi điều chỉnh; Đối tượng áp dụng; Tham gia và đóng bảo hiểm thất nghiệp; Tư vấn, giới thiệu việc làm; Hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề; trợ cấp thất nghiệp; Hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động; Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp; Quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Các nội dung sửa đổi, hoàn thiện được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định tại Nghị định số 28/2015/NĐ-CP và Nghị định số 61/2020/NĐ-CP, bổ sung hình thức nộp hồ sơ trực tuyến (thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia) để phù hợp với chủ trương tại Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW và sửa tên gọi của các cơ quan cho phù hợp việc sáp nhập, tinh gọn tổ chức bộ máy.
Thứ hai, Bộ Nội vụ đề xuất bổ sung 15 điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP (đã được bổ sung tại Nghị định số 61/2020/NĐ-CP).
Theo đó, bổ sung 1 điều về mức đóng và nguồn đóng bảo hiểm thất nghiệp. Cụ thể, người lao động, người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp với mức bằng 0,9% mức tiền lương tháng. Nhà nước hỗ trợ tối đa 0,9% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Nguồn đóng xây dựng trên cơ sở kế thừa Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP. Tại Điều 33 Luật Việc làm quy định mức đóng tối đa 1%, cơ quan soạn thảo đã tính toán về thu, chi và lựa chọn mức đóng 0,9% để bảo đảm khả năng chi trả của Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp và bảo đảm an toàn Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp mà không cần sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước trong 5 năm tới.
Bổ sung 1 điều về giảm tiền đóng vào Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp từ 0,9% xuống 0% tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động là người khuyết tật trong thời gian người lao động làm việc nhưng thời gian hỗ trợ không quá 12 tháng.
Khi tính toán Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp trong xây dựng Luật Việc làm, theo kết quả Điều tra quốc gia về lao động-việc làm và Điều tra quốc gia người khuyết tật Việt Nam, có 31% trong tổng số 6,4 triệu người khuyết tật có khả năng lao động (khoảng 2 triệu người).
Giả sử chính sách này giúp thu hút được 10% người khuyết tật có khả năng lao động, với mức tiền lương bình quân tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp hiện nay là 6 triệu đồng/tháng, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp hằng tháng là 0,8% mức tiền lương tháng thì số tiền đóng giảm đóng bảo hiểm thất nghiệp khoảng 115,2 tỷ đồng/năm, Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp vẫn bảo đảm an toàn trong 5 năm tới.
Mặt khác, việc giảm đóng này cũng không phát sinh thủ tục hành chính khi người sử dụng lao động đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động là người khuyết tật với cơ quan bảo hiểm xã hội.
Bổ sung 1 điều quy định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với các đối tượng tham gia bảo hiểm theo quy định tại Điều 31 Luật Việc làm, tạm dừng đóng bảo hiểm thất nghiệp và truy thu, truy đóng bảo hiểm thất nghiệp. Luật Việc làm năm 2025 đã bỏ quy định về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp (được quy định tại Điều 58 Luật Việc làm năm 2013). Do đó, dự thảo Nghị định đã quy định trên cơ sở kế thừa các nội dung tại Điều 58 Luật Việc làm năm 2013 và đồng bộ với quy định hiện hành về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Bổ sung 1 điều về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp. Theo đó, các trường hợp được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trong 5 trường hợp sau: (1) Người lao động có tháng đóng chưa được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp, (2) Người lao động bị hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, (3) Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, (4) Người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp, (5) Người lao động được cơ quan bảo hiểm thất nghiệp xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp. Đây là các quy định hiện hành đã và đang được triển khai thực hiện. Để bảo đảm thuận lợi trong tổ chức thực hiện từ ngày 1/1/2026 (ngày Luật Việc làm có hiệu lực), cơ quan soạn thảo đề xuất bổ sung nội dung này tại dự thảo Nghị định.
Dự thảo bổ sung 1 điều về về mức hỗ trợ tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề. Cụ thể, mức hỗ trợ học phí đối với người tham gia khóa đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề đến 3 tháng tối đa không quá 4.500.000 đồng/người mỗi khóa đào tạo. Đối với người tham gia khóa đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề trên 3 tháng, mức hỗ trợ tối đa không quá 1.500.000 đồng/người mỗi tháng.
Mức hỗ trợ tiền ăn là 50.000 đồng/người mỗi ngày thực học và được chi trả trực tiếp cho người lao động. Kinh phí hỗ trợ học phí đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề được chi trả thông qua cơ sở đào tạo.
Dự thảo Nghị định bổ sung 1 điều về mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp và 1 điều về thông báo về việc tìm kiếm việc làm theo hướng kế thừa các quy định hiện hành đã và đang được triển khai thực hiện và quy định việc thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc làm trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia.
Bộ Nội vụ lược bỏ 7 điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP (đã được bổ sung tại Nghị định số 61/2020/NĐ-CP) gồm: Nguồn hình thành Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp; Phương thức đóng và nguồn đóng bảo hiểm thất nghiệp; Kế hoạch tài chính, quản lý, sử dụng và quyết toán; Tham gia bảo hiểm thất nghiệp; Hồ sơ theo dõi việc đóng, hưởng bảo hiểm thất nghiệp; Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; Hưởng bảo hiểm y tế
Dự thảo Nghị định bổ sung 2 thủ tục hành chính mới. Đó là: Thủ tục thanh toán hỗ trợ kinh phí hỗ trợ người lao động tham gia khoá đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề vì bổ sung hỗ trợ tiền ăn nên phát sinh thủ tục hành chính để thực hiện nội dung này; Thủ tục về thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc làm.