Giải bài toán thiếu nhân lực chất lượng cao cho nông nghiệp hiện đại

Bên cạnh nguồn vốn, cơ sở vật chất thì nhân lực được xác định là chủ thể quan trọng của quá trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Tỷ lệ làm đất bằng máy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chiếm trên 95% tổng diện tích; hơn 70% diện tích lúa được thu hoạch bằng máy. Ảnh: Bích Phượng.

Trước “rào cản” lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn còn yếu và thiếu, Vĩnh Phúc đã và đang nỗ lực thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp phát triển nguồn nhân lực có thể đáp ứng đầy đủ cả về kỹ năng, tư duy để khai thác, sử dụng tốt các công nghệ, ứng dụng khoa học tiên tiến nhất vào sản xuất nông nghiệp hiện đại.

Hiệu quả từ ứng dụng công nghệ trong sản xuất

10 năm trở lại đây, nhờ đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, nhất là ứng dụng công nghệ cao, đưa cây con, giống mới vào sản xuất đã giúp ngành nông nghiệp Vĩnh Phúc gặt hái nhiều thành quả quan trọng.

Nếu như năm 2012, giá trị nông nghiệp toàn tỉnh chỉ đạt trên 8.200 tỷ đồng thì đến hết năm 2021, đạt gần 11.000 tỷ đồng, tăng 1,33 lần. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo đúng hướng, tỷ trọng trồng trọt giảm còn 39%, chăn nuôi tăng hơn 54%.

Trang trại Đào Gia Trang của chị Văn Thị Yến, ở khu 10, thị trấn Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường. Sau những thành công bước đầu khi kiên trì theo đuổi mô hình trồng rau, dưa lưới trong nhà kính theo hướng VietGAP, mới đây, chị Yến lại là một trong những nông dân đầu tiên của tỉnh tiên phong thử nghiệm gói giải pháp Smart Farm (nông nghiệp công nghệ cao) của Công ty Cổ phần Bóng đèn - Phích nước Rạng Đông trên cây dưa lưới.

Thông qua các thiết bị điều khiển thông minh, không chỉ giúp cây dưa phát triển nhanh, chất lượng và độ ngọt tăng từ 10 - 15% so với trước mà điểm tối ưu là khâu vận hành rất dễ dàng và hiện đại, không phụ thuộc vào yếu tố thời tiết. Qua điện thoại thông minh kết nối internet, ở bất kỳ đâu chị Yến cũng có thể chăm sóc, điều chỉnh lượng nước, nhiệt độ hệ thống nhà vườn.

Phương pháp này cũng có thể áp dụng đối với các loại cây trái vụ khác thông qua điều chỉnh, thay đổi thông số kỹ thuật bảo đảm phù hợp với từng loại cây trồng. Bên cạnh ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, chị Yến đã và đang tận dụng công nghệ thông tin để tham gia các sàn thương mại điện tử, các mạng xã hội để giới thiệu, quảng bá, tiêu thụ nông sản và sử dụng thành thạo phương thức thanh toán điện tử trong giao dịch thương mại điện tử.

Hiện tỷ lệ làm đất bằng máy trên địa bàn tỉnh đang chiếm trên 95% tổng diện tích; hơn 70% diện tích lúa được thu hoạch bằng máy. Đặc biệt, bắt nhịp tiến bộ khoa học công nghệ, nhiều nông dân đã mạnh dạn đầu tư, chủ động tìm tòi, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất, góp phần giảm việc sử dụng thuốc trừ dịch hại, bảo vệ thiên địch trên đồng ruộng, giữ cân bằng hệ sinh thái, giảm thiểu độc hại cho môi trường và bảo vệ sức khỏe người dân.

Trang trại Đào Gia Trang sử dụng giải pháp Smart Farm chiếu sáng nông nghiệp công nghệ cao,nông nghiệp chính xác cho vườn dưa lưới. Ảnh: Bích Phượng.
Trang trại Đào Gia Trang sử dụng giải pháp Smart Farm chiếu sáng nông nghiệp công nghệ cao,nông nghiệp chính xác cho vườn dưa lưới. Ảnh: Bích Phượng.

“Điểm nghẽn” khi áp dụng công nghệ cao 

 Tuy nhiên, không phải bất cứ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp nào đầu tư nông nghiệp công nghệ cao cũng thành công như chị Yến, thời gian qua, đã có không ít doanh nghiệp, hợp tác xã phải “khóc ròng”, chịu thất bại sau khi đầu tư cả tỷ đồng mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất làm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vì thiếu lao động có tay nghề và chuyên môn cao nên không thể làm chủ khoa học công nghệ.

Theo Chi cục Phát triển nông thôn Vĩnh Phúc, trên thực tế lực lượng lao động hiện nay vẫn chủ yếu là người lớn tuổi, khả năng tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật hạn chế, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Trong đó, chỉ tính riêng ở khu vực hợp tác xã, có hơn 53% lao động chưa qua đào tạo, đa số chỉ làm theo thời vụ; số có trình độ đại học, cao đẳng mới chỉ chiếm hơn 14%; độ tuổi cán bộ quản lý hợp tác xã dưới 30 tuổi chỉ chiếm hơn 20%... Đáng nói, trong số gần 190 hợp tác xã nông nghiệp đang hoạt động mới chỉ có chưa tới 10% ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp.

Bên cạnh những yếu tố về nguồn vốn, cơ sở vật chất, với đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã chủ yếu là người cao tuổi, chưa qua đào tạo, các hợp tác xã sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin cũng như công tác quản lý, xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh, mở rộng liên kết, tiêu thụ sản phẩm, nhất là trong thời điểm nền nông nghiệp hàng hóa đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay.

Chia sẻ về “điểm nghẽn” khiến nhiều HTX gặp khó khăn chưa thể ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất kinh doanh nông sản, ông Đỗ Văn Dũng, Giám đốc HTX Dịch vụ nông nghiệp kinh doanh hàng nông sản An Hòa thừa nhận, hầu hết lãnh đạo trong các hợp tác xã nông nghiệp đều cao tuổi, chậm và ngại thay đổi, rất khó thích ứng với nền nông nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao.

Riêng hợp tác xã của ông, từ khi bắt đầu thành lập đã chủ động xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, hướng dẫn xã viên sản xuất theo quy trình VietGAP và đầu tư kho lạnh, khu sơ chế để bảo quản sản phẩm.

Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, hợp tác xã đã gặp phải không ít khó khăn, nhất là vấn đề ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm. Một phần nguyên nhân là do cả 4 thành viên trong Ban Giám đốc đều đã chạm ngưỡng 50 tuổi nên việc tìm hiểu thông tin trên internet, ứng dụng công nghệ mới, chia sẻ kinh nghiệm, kết nối, quảng bá thương hiệu không nhạy bén bằng lớp trẻ.

Tìm hiểu được biết, đầu năm 2019, theo Kế hoạch 9228 của UBND tỉnh về triển khai thí điểm mô hình đưa cán bộ trẻ tốt nghiệp đại học, cao đẳng về làm việc có thời hạn tại các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2019 - 2021, HTX Dịch vụ nông nghiệp kinh doanh hàng nông sản An Hòa của ông Dũng là 1 trong 4 đơn vị đầu tiên được đón kỹ sư trẻ về làm việc.

Ngay khi về cơ sở, kỹ sư trẻ đã phát huy trí tuệ, sự năng động, sáng tạo của tuổi trẻ, nhanh chóng bắt nhịp với công việc, tham mưu nhiều giải pháp mới thúc đẩy sản xuất hiệu quả, góp phần đưa doanh thu năm 2019 của hợp tác xã đạt hơn 7 tỷ đồng. Đặc biệt, sản phẩm rau, củ, quả của hợp tác xã đã có mặt ở hệ thống các siêu thị BigC toàn miền Bắc; 2 bếp ăn tập thể ở Hà Nội và 1 công ty chế biến nông sản ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, với sản lượng cung ứng bình quân đạt từ 150 - 200 tấn/tháng.

Thế nhưng, chưa kịp mừng, đầu năm 2020, kỹ sư này đột nhiên xin nghỉ việc khiến những dự định phát triển theo hướng mới của hợp tác bị ảnh hưởng không nhỏ… Và chỉ sau hơn 1 năm triển khai thực hiện, chương trình thí điểm đưa kỹ sư về làm việc ở hợp tác xã của tỉnh đã phải tạm dừng do các cán bộ trẻ chỉ được ký hợp đồng và hỗ trợ theo mức lương tối thiểu vùng, nguồn thu nhập không bảo đảm nên xin rút để tìm kiếm cơ hội việc làm mới.

Giải bài toán thiếu nhân lực 

 Để từng bước giải bài toán thiếu nhân lực chất lượng cao cho sản xuất nông nghiệp hiện đại, cùng với các cơ chế đặc thù thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tỉnh Vĩnh Phúc đã và đang tranh thủ các cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh về cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho nông dân; chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; kế hoạch Chuyển đổi số ngành nông nghiệp trên địa bàn… nhằm đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ và thu hút lao động chất lượng cao vào làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp.

Nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh Vĩnh Phúc dành cho đào tạo, thu hút lao độngchất lượng cao vào làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Ảnh: Bích Phượng.
Nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh Vĩnh Phúc dành cho đào tạo, thu hút lao độngchất lượng cao vào làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Ảnh: Bích Phượng.

Riêng khu vực kinh tế tập thể, UBND tỉnh đã xây dựng Đề án phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 - 2025 với mục tiêu cụ thể đến năm 2025, có ít nhất 24% cán bộ quản lý hợp tác xã tốt nghiệp đại học, cao đẳng doanh thu và lãi của các hợp tác xã tăng bình quân từ 5 - 6%/năm.

Theo đó, cùng với tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ, thành viên, người lao động của hợp tác xã về nghiệp vụ quản lý tài chính, kế toán, chính sách, pháp luật có liên quan đến hoạt động của hợp tác xã; hướng dẫn xây dựng kế hoạch, phương án sản xuất kinh doanh, ngân sách tỉnh sẽ hỗ trợ đào tạo tối đa hai cán bộ, thành viên/hợp tác xã và không quá 25 triệu đồng/người/khóa.

Đồng thời, hỗ trợ hằng tháng ít nhất bằng 1,5 lần mức lương tối thiểu vùng, tối đa 1 người/tổ chức kinh tế tập thể và thời gian hỗ trợ không quá 3 năm/hợp tác xã cho người tốt nghiệp đại học, cao đẳng và trên đại học có nhu cầu về làm việc cho các hợp tác xã.

Hỗ trợ tối đa 60 triệu đồng/lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng trong điều hành hoạt động của hợp tác xã, hướng dẫn quy trình xây dựng sản phẩm OCOP, xây dựng chuỗi cung ứng sản phẩm.

nongnghiep.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Tết ở vùng cam Chấn Thịnh

Tết ở vùng cam Chấn Thịnh

Những ngày cuối năm, nhiều vườn cam ở xã Chấn Thịnh chỉ còn lác đác vài chùm quả. Dưới chân đồi, sọt nhựa, thùng xốp đã được xếp gọn vào góc sân. Không còn cảnh thương lái tấp nập ra vào như tháng cao điểm, nhưng niềm vui hiện rõ trên gương mặt người trồng cam. Một mùa bội thu đang khép lại, mang theo cái Tết đủ đầy cho hàng trăm hộ dân ở vùng trồng cam Chấn Thịnh.

Châu Quế chuyển mình

Châu Quế chuyển mình

Sau hợp nhất từ hai xã Châu Quế Hạ và Châu Quế Thượng, xã Châu Quế, đang từng bước chuyển mình chính thức vận hành trong không gian hành chính mới với địa bàn rộng hơn, quy mô dân số lớn hơn, bộ máy được sắp xếp tinh gọn theo hướng hiệu lực, hiệu quả. 

Lực lượng kiểm lâm phối hợp cùng người dân tuần tra bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải.

Bảo vệ sinh cảnh, gìn giữ đa dạng sinh học cho mai sau

Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ rừng đầu nguồn khu vực Tây Bắc. Trước áp lực từ biến đổi khí hậu và nhu cầu sinh kế của người dân vùng cao, sự vào cuộc đồng bộ của lực lượng kiểm lâm, chính quyền cơ sở và cộng đồng đang tạo nền tảng vững chắc để những cánh rừng nơi đây được quản lý, gìn giữ hiệu quả.

Sức sống mới ở Páo Tủng

Sức sống mới ở Páo Tủng

Páo Tủng - thôn nhỏ ở xã Mường Khương có hơn 50 hộ dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc Nùng, Bố Y sinh sống quần tụ qua nhiều thế hệ. Từ bao đời nay, bà con nơi đây luôn phát huy tinh thần đoàn kết, cần cù, tương trợ lẫn nhau trong lao động, sản xuất và đời sống thường ngày. Chính sự đồng lòng ấy đã tạo nên sức mạnh bền bỉ để Páo Tủng từng bước vượt qua khó khăn, vươn lên xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, khởi sắc.

Hướng làm giàu của người dân Khởi Khe

Hướng làm giàu của người dân Khởi Khe

Tận dụng lợi thế đất rừng và nước mặt, người dân thôn Khởi Khe, xã Phong Hải đã phát triển trồng quế, nuôi cá theo hướng hàng hóa, từng bước nâng cao thu nhập. Hiện nay, khoảng 80% số hộ trong thôn đạt mức khá, giàu; đời sống vật chất, tinh thần ngày càng cải thiện, diện mạo nông thôn khởi sắc rõ nét.

Sản xuất nông nghiệp phát huy lợi thế cạnh tranh

Sản xuất nông nghiệp phát huy lợi thế cạnh tranh

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt mạnh, khí hậu phân hóa rõ rệt theo độ cao. Chính sự đa dạng ấy tạo ra những “tiểu vùng sinh thái” đặc thù, phù hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi đặc hữu như: mận Tam hoa Bắc Hà, chè Shan tuyết cổ thụ, gạo Séng Cù, tương ớt Mường Khương, dược liệu Sa Pa…

Những phụ nữ Dao cùng nhau thu hoạch vỏ quế tươi.

Xuân ấm bản Dao

Những con đường bê tông uốn lượn dẫn vào các bản người Dao như đẹp hơn bởi sắc đào đỏ thắm xen lẫn màu xanh ngút ngàn của những rừng quế. Những căn nhà khang trang đầy ắp tiếng cười. Một mùa xuân ấm no, yên bình đang gõ cửa từng nếp nhà.

“Dân vận khéo” - “đòn bẩy” trong phát triển kinh tế, giảm nghèo ở Mù Cang Chải

“Dân vận khéo” - “đòn bẩy” trong phát triển kinh tế, giảm nghèo ở Mù Cang Chải

Thời gian qua, phong trào thi đua “Dân vận khéo” trên địa bàn xã Mù Cang Chải được triển khai đồng bộ, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới của địa phương. Với những cách làm linh hoạt, sát thực tiễn, nhiều mô hình kinh tế hiệu quả đã được hình thành, nhân rộng, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống Nhân dân và tạo chuyển biến tích cực ở cơ sở.

 Nông dân Quyết Tâm vào vụ Tết

Nông dân Quyết Tâm vào vụ Tết

Những ngày cận Tết, không khí sản xuất tại thôn Quyết Tâm, xã Bảo Thắng trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Trên khắp các cánh đồng, bà con tập trung chăm sóc, thu hoạch rau xanh và hoa lay ơn phục vụ thị trường. Sản xuất vụ đông đang trở thành hướng phát triển kinh tế chủ lực, góp phần nâng cao thu nhập và tạo việc làm ổn định cho người dân địa phương.

“Đòn bẩy” giúp nông dân phường Nghĩa Lộ vươn lên phát triển sản xuất

“Đòn bẩy” giúp nông dân phường Nghĩa Lộ vươn lên phát triển sản xuất

Năm 2025, phường Nghĩa Lộ còn 160 hộ nghèo, chiếm 3,46% và 103 hộ cận nghèo chiếm 2,23% - những con số cho thấy thách thức giảm nghèo bền vững vẫn hiện hữu. Trước thực tế đó, việc tạo “đòn bẩy” hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và chủ động vươn lên thoát nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của cả hệ thống chính trị địa phương.

Gặp triệu phú dâu tằm ở Trấn Yên

Gặp triệu phú dâu tằm ở Trấn Yên

Dân gian có câu: “Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng” ý nói sự vất vả, bận rộn của nghề trồng dâu nuôi tằm. Vậy nhưng cái nghề vất vả này đang được nhiều hộ dân ở các thôn trên địa bàn xã Trấn Yên chọn làm hướng thoát nghèo và vươn lên làm giàu…

Mỏ Vàng nâng cao giá trị nông, lâm nghiệp

Mỏ Vàng nâng cao giá trị nông, lâm nghiệp

Là xã vùng cao còn nhiều khó khăn của tỉnh Lào Cai, Mỏ Vàng phải đối mặt với địa hình chia cắt, hạ tầng chưa đồng bộ, đời sống người dân còn không ít khó khăn, vất vả. Thế nhưng, bằng quyết tâm chính trị cao và cách làm linh hoạt, phát huy hiệu quả tiềm năng đất đai, rừng và thế mạnh cây quế, năm 2025 kinh tế nông, lâm nghiệp của xã tiếp tục giữ đà tăng trưởng, tạo nền tảng nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân.

Nối mạch giao thông trên núi dốc

Nối mạch giao thông trên núi dốc

Do địa hình đồi núi dốc, việc đầu tư hạ tầng giao thông tại xã Chế Tạo gặp nhiều khó khăn, chi phí lớn. Không trông chờ vào nguồn lực Nhà nước, người dân đã chủ động góp công, góp của mở nên những tuyến đường đặc thù, rộng 80 cm đến 1 mét, men theo sườn núi. Dù nhỏ hẹp, những con đường ấy chính là “cao tốc” của bà con - kết nối các bản làng giữa đại ngàn, mở lối cho phát triển và đổi thay.

Nậm Dù hướng đến trở thành miền quê đáng sống

Nậm Dù hướng đến trở thành miền quê đáng sống

Cùng cán bộ xã Xuân Quang, từ quốc lộ, chúng tôi rẽ vào ngõ nhỏ mà người dân thôn Nậm Dù quen gọi với cái tên thân thuộc - “ngõ nhà văn hóa”. Đường ngõ được đổ bê tông, dọc hai bên là những ngôi nhà xây khang trang, sạch đẹp, hàng cây xanh cắt tỉa gọn gàng, điểm xuyết vài sắc hồng, sắc tím của hoa giấy và những khóm hoa hồng tỏa hương thơm dịu. Làng quê yên ả và thanh bình hiện diện từ mô hình “10 hộ liền kề, ngõ văn minh”.

“Cánh tay nối dài” của ngành nông nghiệp tại cơ sở

“Cánh tay nối dài” của ngành nông nghiệp tại cơ sở

Trong những năm qua, các tổ khuyến nông cộng đồng đã khẳng định rõ nét vai trò là cầu nối giữa Nhà nước, nhà khoa học và nhà nông trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh gắn với thị trường. Đây được xem là những “cánh tay nối dài” của ngành nông nghiệp tại cơ sở, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững.

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thăm, hỗ trợ mô hình nuôi cá rô phi tại xã Khánh Yên

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thăm, hỗ trợ mô hình nuôi cá rô phi tại xã Khánh Yên

Chiều 11/2, Đoàn công tác của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia do ông Lê Quốc Thanh - Giám đốc Trung tâm làm trưởng đoàn đã đến thăm, nắm tình hình và trao hỗ trợ thức ăn thủy sản cho các hộ tham gia Dự án mô hình nuôi bán thâm canh cá rô phi trong ao gắn với liên kết tiêu thụ cho hộ nghèo, cận nghèo tại xã Khánh Yên.

fb yt zl tw