Quay về E-magazine Theo dõi Báo Lào Cai trên Google News

Bài 1: Mang yêu thương về “thung lũng sừng trâu”

Lào Cai - vùng biên gian khó, xa xôi của Tổ quốc, nơi có biết bao thôn, bản vùng cao heo hút, nằm cheo leo giữa mây núi, sương ngàn. Ở đó vẫn còn bao bản làng bị bủa vây bởi đói nghèo, lạc hậu. Để mang ánh sáng của tri thức đến với đồng bào, nhiều thế hệ nhà giáo đã dành cả tuổi thanh xuân và nhiệt huyết để cắm trường, cắm bản, “gieo hạt chữ” lên non.

927be86d8b1829467009.jpg

31 tuổi, chưa lập gia đình nhưng thầy giáo Tráng Seo Thắng, Trường Mầm non Tả Van Chư (huyện Bắc Hà) lại rất khéo léo, tháo vát. Khi ở trường, anh là “cha” của đàn con thơ, khi về nhà anh tiếp tục chăm sóc những cháu nhỏ thiếu vắng bàn tay cha mẹ. Tạm gác lại hạnh phúc riêng, tất cả thời gian có được, thầy Thắng đều dành chăm lo cho những “đứa con” đặc biệt của mình.

331CEFDB-4CF3-4D73-9DEA-74544C5A131C.jpeg

Trường Mầm non Tả Van Chư có 1 điểm trường chính và 4 điểm trường lẻ, trong đó Nhiều Cù Ván là điểm trường xa xôi, khó khăn nhất. Con đường cấp phối quanh co dài 7 km từ điểm trường chính dẫn lối để chúng tôi tìm về điểm trường Nhiều Cù Ván với lổn nhổn đất đá.

Cô giáo Vàng Thị Đông, Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Tả Van Chư bảo: May hôm nay trời nắng nên xe còn đi được, chứ mưa xuống thì vất vả lắm! Năm nào vào mùa mưa, tuyến đường này cũng đôi ba lần sạt lở, giáo viên phải gửi xe giữa đường để cuốc bộ lên điểm trường. Đi nhiều rồi cũng thành quen.

D66E5411-4DD2-4B41-930B-65E521237D54.jpeg

Sau hơn 30 phút ghì cương "con ngựa sắt" để vượt qua lởm chởm đất đá, chúng tôi cũng đến được Nhiều Cù Ván. Thôn nhỏ người Mông hiện ra thật bình yên dưới nền trời xanh thẳm nhưng vẫn hiện hữu rõ nét cái đói, cái nghèo. Đứng từ tầm cao phóng mắt xuống lòng thung, giữa khoảng không mênh mông, những đồi cây ở đất cằn mãi chưa ra lộc biếc, chỉ để lại những triền vàng xơ xác và cả những chỏm đá tai mèo ôm chặt đất, nhô cao. Trong bức tranh yên bình ấy, điểm trường mầm non Nhiều Cù Ván hiện lên đẹp như mơ giữa nắng hè vàng ruộm.

Nghe tin có nhà báo lên, thầy Thắng vui mừng ra tận cổng đón. Thầy bảo, điểm trường nằm chơi vơi giữa mây ngàn, đường sá đi lại khó khăn, bốn mùa chỉ làm bạn với gió và núi, hiếm lắm mới có khách đến thăm.

71A13EF0-70A0-4846-824E-52F152E6FD3F.jpeg

Điểm trường Nhiều Cù Ván hiện có 2 lớp học, với 53 học sinh từ 2 đến 5 tuổi, do thầy Thắng và 1 cô giáo đảm nhiệm. Thời điểm chúng tôi đến, lớp học vang lên thanh âm rộn ràng của những bài hát thiếu nhi. Thầy Thắng đón khách xong lại tiếp tục vào lớp vừa bắt nhịp, vừa làm những động tác đáng yêu để học trò vui học. Sau tiết học trên lớp, thầy cho các em ra sân tập luyện thể thao, học múa khèn, thổi sáo và nghe những câu chuyện kể ở thư viện ngoài trời.

Thầy Thắng cười vui: Các chị may mắn khi lên đây đúng ngày trời quang, nắng đẹp nên được ngắm “view triệu đô”. Mới hôm qua thôi, mưa dầm dề, mịt mù, cả tuần trời học trò chỉ ngồi yên trong lớp.

44341C41-3299-4C6D-A7CB-8FE9FAB28A48.jpeg

Sân trường mà các em nhỏ đùa vui hôm nay trước đây ngập đầy bùn đất, ngày nắng bụi mù mịt, ngày mưa trơn trượt. Chẳng rõ có phải cơ duyên không khi cách đây nhiều năm, thời điểm vừa ra trường, thầy Thắng đã từng tham gia đoàn thanh niên ở địa phương và trong một lần tình nguyện, thầy đến điểm trường này cùng các đoàn viên, thanh niên tham gia đổ bê tông sân trường. Về sau, khi bắt đầu gắn bó với những học trò ở bản nghèo, thầy giáo Thắng vẫn tiếp tục vận động, kết nối các tổ chức, cá nhân và đoàn viên của chi đoàn nhà trường cùng tham gia trang trí, tạo cảnh quan sân trường, lớp học bằng nhiều cây xanh, những vạt hoa đầy màu sắc và đồ chơi từ những vật liệu tái sử dụng.

1939C763-CFB3-424C-8878-B4F6E8426373.jpeg

Anh Tráng Seo Lềnh, phụ huynh học sinh ở điểm trường mừng vui: Nhìn các con được học tập, vui chơi trong ngôi trường khang trang, được các thầy cô quan tâm dạy dỗ, tôi rất yên tâm và cố gắng để các con đi học đầy đủ.

385093F7-5B03-48A5-855E-61F55476826A.jpeg

Đợi đến khi những trò nhỏ ăn trưa xong, thầy Thắng ra hiệu cả lớp đi ngủ, khi ấy, chúng tôi mới bắt đầu câu chuyện với thầy giáo trẻ. Bằng giọng nói cởi mở, chân thành, hào sảng của người Mông, thầy giáo Thắng kể cho chúng tôi nghe về cơ duyên đến với nghề “cô nuôi dạy trẻ”.

1E041F53-9CE3-4613-9D49-57938F2CAB42.jpeg

Anh Thắng là con thứ 4 trong gia đình có 5 anh chị em ở thôn Tẩn Chư, xã Tả Van Chư, huyện Bắc Hà. Sau khi học hết lớp 12, anh phải gác lại ước mơ làm thầy giáo mầm non bởi gia đình quá khó khăn, không có điều kiện tiếp tục theo học chuyên nghiệp. Những ngày đi chăn trâu, cắt cỏ, anh Thắng lén mang theo sách ôn luyện để không quên kiến thức. Thấy cháu ham học, người chú ruột đã thuyết phục bố mẹ anh cho anh được theo đuổi ước mơ, đồng thời hứa sẽ hỗ trợ trong những năm học xa nhà. Không phụ lòng của người thân, 1 năm sau, anh Thắng thi đỗ Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Dương, chuyên ngành mầm non.

01E36497-D1B8-44B9-ABF3-A6EAFCB7EFFE.jpeg

Ngày nhập học, anh được chú cho 2 triệu đồng, đó cũng là số tiền duy nhất để chàng sinh viên bắt đầu cuộc sống xa nhà. Để có tiền đóng học phí và trang trải cuộc sống, sau giờ học, anh xin làm thêm đủ thứ việc như rửa xe, trông xe, phục vụ quán ăn… Năm 2016, anh Thắng trở thành người đầu tiên trong dòng họ tốt nghiệp cao đẳng và cũng là thầy giáo đầu tiên ở bản Mông Tẩn Chư. Ra trường, cầm tấm bằng trên tay, anh trở về quê hương và tham gia công tác đoàn thanh niên, sau đó nhận nhiệm vụ giảng dạy tại điểm trường Nhiều Cù Ván.

6B6F5F84-37FD-4A74-81FC-26C40240E215.jpeg

Nhiều Cù Ván theo tiếng của đồng bào có nghĩa là “thung lũng sừng trâu”, có lẽ do địa hình nơi đây được bao bọc bởi những dãy núi đá tai mèo trông xa như những chiếc sừng trâu đen bóng. Từ bao đời nay, cuộc sống của đồng bào Mông nơi này luẩn quẩn bởi cái nghèo, cái khổ bao vây. Ngày thầy Thắng về nhận nhiệm vụ, cơ sở vật chất dạy học ở điểm trường tạm bợ và thiếu thốn. Lớp học không có điện, phải thắp đèn dầu. Mùa nắng còn đỡ, mùa đông giá rét, mưa phùn, thầy trò phải đốt lửa để xua đi lạnh giá.

7E5E2EDA-0416-4A8A-B7B3-DE487D46608E.jpeg

Nhà thầy Thắng ở thôn Tẩn Chư, cách điểm trường 5 km. Các anh chị đi làm xa, ngoài việc trên lớp, thầy Thắng còn đảm nhận việc chăm sóc 4 cháu nhỏ. Sáng nào thầy Thắng cũng dậy sớm chuẩn bị cho các cháu ăn rồi đưa từng đứa đến lớp. Xong xuôi, thầy lại tất tả đến trường đón nhận trẻ.

“Đường ở thôn khó khăn quá, ngày mưa trơn trượt, biết bao lần nhìn lũ trẻ đến lớp với lấm lem bùn đất, co mình vì áo quần ướt lạnh, tôi không khỏi chạnh lòng. Vì thế, vào những ngày mưa, tôi thường đến nhà những em ở xa để chở học sinh đến lớp. Chiều tan học, nếu mưa vẫn chưa ngớt, tôi lại đưa các em về nhà” - thầy Thắng tâm sự.

27CBAF1C-D980-4AA7-B7DD-996FFB825945.jpeg

Thầy giáo Thắng nhớ mãi kỷ niệm một lần có học sinh trong lớp sốt cao, thời điểm đó thầy cô không thể liên lạc với gia đình bởi bố mẹ em không dùng điện thoại, nhờ trưởng thôn đến nhà gọi thì mới biết phụ huynh đang ở nương xa. Nhìn học trò đuối sức dần, thầy Thắng gửi lại lớp cho cô giáo kế bên rồi dùng xe máy chở học sinh đến trạm y tế xã. Quãng đường từng đi bao ngày bỗng chốc trở nên xa xôi vì sự sốt ruột, lo lắng tình trạng học trò chuyển nặng. Thầy trở thành người thân ở lại trạm y tế xã chăm sóc trẻ cho tới khi gia đình đến.

1DDED29E-8EAB-4F4A-8F23-8427B0B49011.jpeg

Ở vùng đất xa xôi, heo hút, tưởng như sẽ không có nhiều việc để làm bởi nhịp sống bao đời vẫn vậy, nhưng thực tế một ngày của thầy giáo mầm non tất bật từ sáng tới tối, xoay quanh việc dạy dỗ, chăm lo từ bữa ăn đến giấc ngủ của những đứa trẻ từ 2 đến 5 tuổi. Nhiều khi học trò nhỏ tuổi quấy khóc, thầy phải bế ròng trên tay vỗ về. Là thầy giáo dạy mầm non, ít nhiều thầy Thắng phải đối diện với những khó khăn về giới khi vừa là thầy, vừa phải đóng vai trò là "cô", là "mẹ" của học trò. Những kỹ năng múa hát, kể chuyện, chăm sóc trẻ cũng là yêu cầu khó mà không phải ai cũng làm được.

Sinh ra là lớn lên trong nghèo khó, lại cùng là đồng bào Mông, thầy Thắng mong mỏi hơn ai hết những đứa trẻ ở bản nghèo được đến trường vui chơi, học tập. Món quà duy nhất trong suốt những năm qua mà thầy được nhận của học trò và đồng bào nơi đây là tình cảm yêu mến.

Trời ngả về chiều, chúng tôi nói lời tạm biệt với thầy trò ở bản Mông. Chiếc xe vượt con đường đầy đá để xuôi về vùng thấp, để lại sau lưng là lòng thung bình yên trong nắng và tiếng trẻ líu lo đọc bài.

9F3F2B5E-5798-4886-93E4-A7D91DF88E08.jpeg

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Xác định tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ quan trọng, thể hiện trách nhiệm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỉnh Lào Cai đã huy động cả hệ thống chính trị cùng chung tay tìm kiếm, đưa các chiến sĩ cách mạng còn nằm lại nơi chiến trường trở về với gia đình, quê hương.

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Xã Tằng Loỏng là địa bàn đông dân cư, tập trung Khu công nghiệp luyện kim, hóa chất trọng điểm của quốc gia và tỉnh, với nhiều doanh nghiệp, nhà máy đang hoạt động. Thế nhưng, giữa nhịp phát triển công nghiệp sôi động, người dân và công nhân lao động vẫn phải mua bán trong một khu chợ tạm hình thành từ nhiều năm trước. Sự thiếu hụt hạ tầng thương mại đang trở thành nghịch lý cần được giải quyết.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Từ khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, điều thay đổi quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích hay quy mô dân số mà còn tạo ra không gian phát triển lớn hơn cho tỉnh Lào Cai mới. Trong không gian đó, đầu tư hạ tầng giữ vai trò kết nối các vùng động lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản và kinh tế cửa khẩu, hướng tới mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Sức sống mới nơi thượng nguồn Lũng Pô Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Trên hành trình ngược suối Lũng Pô với chiều dài hơn 30 km từ thôn Lũng Pô (xã A Mú Sung) đến thôn Hồng Ngài (xã Y Tý), cùng với cảm nhận về sự đổi thay ở những vùng đất bên dòng suối biên giới, điều làm chúng tôi tự hào là khung cảnh bình yên hiện hữu khắp dải biên cương xa xôi. Ở nơi ấy, dù đường biên giới dài và địa hình hiểm trở, những chiến sĩ biên phòng vẫn luôn chắc tay súng cùng đồng bào các dân tộc giữ bình yên biên giới.

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng mở ra không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân. Thế nhưng, do vướng mắc mặt bằng khiến tiến độ nhiều công trình bị ảnh hưởng, nguồn vốn đầu tư chưa được phát huy

fb yt zl tw