Thủ tướng Chính phủ yêu cầu chấn chỉnh, tăng cường quản lý tạm ứng vốn đầu tư công

Phó Thủ tướng Lê Minh Khái vừa ký Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 12/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh, tăng cường quản lý tạm ứng vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước của các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu chấn chỉnh, tăng cường quản lý tạm ứng vốn đầu tư công.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu chấn chỉnh, tăng cường quản lý tạm ứng vốn đầu tư công.

Chỉ thị nêu: Những năm qua, công tác quản lý nhà nước về tạm ứng vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) đã từng bước được tăng cường, quy định tương đối chặt chẽ và được thể chế hóa tại các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hợp đồng, quản lý, thanh toán vốn đầu tư nguồn NSNN (trong đó có các chế tài như bảo lãnh tạm ứng, mức vốn tạm ứng, thời hạn thu hồi vốn tạm ứng, trách nhiệm của từng chủ thể). Tuy nhiên, công tác thu hồi vốn tạm ứng vẫn còn xảy ra các trường hợp chưa được chủ đầu tư và các cơ quan quản lý chú trọng đúng mức, dẫn đến còn tồn tại những khoản dư tạm ứng có thời gian dài chưa được thu hồi.

Qua theo dõi, tính đến hết ngày 31 tháng 01 năm 2024, số tạm ứng quá hạn nguồn NSNN của các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương còn tương đối lớn, khoảng 7.454 tỷ đồng (trong đó: các Bộ, cơ quan trung ương khoảng 1.279 tỷ đồng, các địa phương khoảng 6.175 tỷ đồng), làm giảm hiệu quả sử dụng vốn NSNN.

Tại Nghị quyết số 91/2023/QH15 ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội về quyết toán ngân sách nhà nước năm 2021, Quốc hội đã giao Chính phủ: "Quản lý chặt chẽ các khoản chi chuyển nguồn ngân sách nhà nước và xử lý dứt điểm những trường hợp tạm ứng quá thời hạn quy định kéo dài nhiều năm".

Để chấn chỉnh và khắc phục tồn tại trong công tác quản lý vốn tạm ứng NSNN như thời gian qua, khẩn trương thu hồi số dư tạm ứng quá hạn, đồng thời bảo đảm việc tạm ứng vốn trong thời gian tới đúng quy định, đúng mục đích, đúng đối tượng và sử dụng vốn tạm ứng có hiệu quả, không để phát sinh các khoản tạm ứng quá hạn, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương căn cứ quy định của pháp luật hiện hành, tăng cường quản lý chặt chẽ, hiệu quả vốn tạm ứng theo đúng quy định; chịu trách nhiệm trong công tác tổng hợp, theo dõi và chỉ đạo trực tiếp các chủ đầu tư thực hiện đúng quy định về quản lý, tạm ứng vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước trong phạm vi kế hoạch vốn được giao; thực hiện kiểm tra định kỳ, đột xuất để chấn chỉnh và xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện của các chủ đầu tư.

Trường hợp người quyết định đầu tư quyết định mức tạm ứng cao hơn 30% giá trị hợp đồng theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 99/2021/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2021 của Chính phủ thì phải căn cứ vào tiến độ thực hiện khối lượng của hợp đồng, khả năng thu hồi vốn tạm ứng của dự án, đánh giá rõ lý do, sự cần thiết mới tăng tỷ lệ tạm ứng và chịu trách nhiệm toàn diện về quyết định của mình.

Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo cơ quan tài chính địa phương phối hợp với cơ quan kiểm soát, thanh toán đồng cấp rà soát số vốn tạm ứng quá hạn (nếu có), định kỳ (6 tháng và hàng năm) báo cáo để có biện pháp thu hồi hết số vốn tạm ứng quá hạn theo quy định tại khoản 6 Điều 10 Nghị định số 99/2021/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2021 của Chính phủ.

Quản lý chặt chẽ, hiệu quả, sử dụng vốn tạm ứng đúng mục đích

Các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương chỉ đạo các chủ đầu tư, ban quản lý dự án thực hiện đúng các quy định hiện hành về việc tạm ứng vốn. Mức vốn tạm ứng, thời điểm tạm ứng, mức thu hồi tạm ứng từng lần, thời điểm thu hồi tạm ứng từng lần theo đúng quy định phải được ghi cụ thể trong hợp đồng và phải phù hợp với tiến độ đầu tư dự án, tiến độ thực hiện hợp đồng và khối lượng thực hiện theo từng năm. Mức vốn tạm ứng và số lần tạm ứng được phân định cụ thể theo từng năm phù hợp với tiến độ thực hiện hợp đồng trong năm tương ứng (nếu có).

Đối với công việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: mức vốn tạm ứng theo kế hoạch, tiến độ thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; mức vốn tạm ứng tối đa theo yêu cầu không vượt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương chỉ đạo các chủ đầu tư, ban quản lý dự án rà soát các nội dung quy định về tạm ứng vốn trong hợp đồng đã ký kết và đang triển khai, đảm bảo đúng quy định của pháp luật về quản lý, tạm ứng hợp đồng (thủ tục bảo lãnh tạm ứng, điều khoản của bảo lãnh tạm ứng; điều khoản thu hồi tạm ứng...); quản lý chặt chẽ, hiệu quả, sử dụng vốn tạm ứng đúng mục đích, đúng đối tượng theo quy định của hợp đồng. Theo dõi sát sao thời gian hiệu lực của bảo lãnh tạm ứng của tổ chức tín dụng để đảm bảo thời gian có hiệu lực của bảo lãnh tạm ứng hợp đồng phải được kéo dài cho đến khi chủ đầu tư đã thu hồi hết số tiền tạm ứng.

Đối với các dự án đang thực hiện còn dư số tạm ứng chưa thu hồi: tiếp tục theo dõi, đôn đốc các đơn vị khẩn trương thực hiện, nghiệm thu khối lượng hoàn thành để thu hồi vốn tạm ứng, đảm bảo thu hồi hết khi giá trị giải ngân đạt 80% giá trị hợp đồng (trừ trường hợp được người có thẩm quyền cho tạm ứng ở mức cao hơn).

Đối với các khoản tạm ứng quá hạn: rà soát, đánh giá cụ thể nguyên nhân từng khoản tạm ứng quá hạn; xác định trách nhiệm tập thể, cá nhân phải hoàn ứng; đề xuất các phương án xử lý triệt để và quyết liệt thực hiện, đảm bảo thu hồi hết số tạm ứng quá hạn (bao gồm cả biện pháp khởi kiện ra tòa, chuyển cơ quan thanh tra, công an).

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện kiểm tra, thanh tra, giám sát nghiệp vụ bảo lãnh của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và xử lý các vi phạm phát sinh theo thẩm quyền theo quy định tại Điều 34 Thông tư số 11/2022/TT-NHNN ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về bảo lãnh ngân hàng.

Thanh tra các trường hợp tạm ứng vốn đầu tư quá hạn

Bộ Tài chính có trách nhiệm định kỳ (6 tháng và hàng năm) đôn đốc các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương có biện pháp thu hồi vốn tạm ứng quá hạn đối với dự án do các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương quản lý theo quy định.

Đồng thời, Bộ Tài chính chỉ đạo Kho bạc nhà nước phối hợp với chủ đầu tư thực hiện kiểm tra số vốn đã tạm ứng để thu hồi những khoản tồn đọng chưa sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích; kiểm tra số dư tạm ứng để đảm bảo thu hồi hết số vốn đã tạm ứng theo quy định tại khoản 6 Điều 10 Nghị định số 99/2021/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2021 của Chính phủ về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công.

Chính phủ giao cơ quan thanh tra các cấp nghiên cứu, có kế hoạch thanh tra đối với các trường hợp tạm ứng vốn đầu tư quá hạn chưa thu hồi nguồn NSNN.

Theo Báo điện tử Chính phủ

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Để sớm đưa Nghị quyết 22 về phát triển giao thông nông thôn vào cuộc sống

Để sớm đưa Nghị quyết 22 về phát triển giao thông nông thôn vào cuộc sống

Những chính sách hỗ trợ xây dựng đường giao thông nông thôn (GTNT) tỉnh Lào Cai đề ra trong giai đoạn 2026 - 2030 sẽ tạo “cú huých” quan trọng để hoàn thiện mạng lưới giao thông cơ sở trong bối cảnh tỉnh bước vào thời kỳ phát triển mới. Tuy nhiên, những khó khăn từ cơ sở đang đặt ra yêu cầu phải có cách làm linh hoạt, sáng tạo và quyết liệt hơn để nghị quyết sớm vào cuộc sống.

Bát Xát: Chi trả gần 60 tỷ đồng kinh phí giải phóng mặt bằng dự án tái định cư đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Bát Xát: Chi trả gần 60 tỷ đồng kinh phí giải phóng mặt bằng dự án tái định cư đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Trong những ngày làm việc cuối cùng trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, UBND xã Bát Xát đã chỉ đạo các đơn vị liên quan phối hợp chặt chẽ với Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng khu vực Bát Xát, khẩn trương hoàn thiện thủ tục để thực hiện chi trả kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng Dự án San gạt mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật Khu Bản Qua cho người dân theo quy định.

Tạo bứt phá ngay từ đầu nhiệm kỳ

Năm 2026 được xác định là thời điểm “bản lề của bản lề”, mở đầu cho nhiệm kỳ mới với môi trường phát triển mới sau khi tỉnh thực hiện sắp xếp, kiện toàn bộ máy hành chính. Với mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10%, Lào Cai đang tập trung triển khai kịch bản tăng trưởng như “mệnh lệnh pháp lý”, siết chặt kỷ luật công vụ và tạo đột phá trong điều hành để tạo đà bứt phá ngay từ những ngày đầu năm.

Chủ động “giữ nhịp” vận hành các cửa khẩu dịp Tết Nguyên đán

Chủ động “giữ nhịp” vận hành các cửa khẩu dịp Tết Nguyên đán

Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 đã cận kề. Đây là thời điểm nhu cầu giao thương hàng hóa và xuất - nhập cảnh qua Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai tăng cao. Trong bối cảnh đó, lực lượng liên ngành tại các cửa khẩu đã chủ động xây dựng phương án trực Tết, phân luồng phương tiện, phối hợp song phương chặt chẽ, bảo đảm thông quan hàng hóa thông suốt, không để xảy ra ùn ứ, gián đoạn chuỗi cung ứng.

Những tuyến đường mở lối cho nông thôn phát triển

Những tuyến đường mở lối cho nông thôn phát triển

Các tuyến đường giao thông nông thôn ở Lào Cai không chỉ đơn thuần phục vụ nhu cầu đi lại, mà còn là yếu tố then chốt mở ra không gian phát triển mới cho sản xuất nông nghiệp, thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân khu vực nông thôn.

Năm 2026, Lào Cai chuẩn bị hơn 500 ha mặt bằng sạch để đón các nhà đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp

Năm 2026, Lào Cai chuẩn bị hơn 500 ha mặt bằng sạch để đón các nhà đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp

Giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Lào Cai quy hoạch, phát triển 20 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích khoảng 5.797,89 ha và 50 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích 2.647,84 ha. Trong đó, riêng năm 2026, tỉnh sẽ tạo lập mới hơn 500 ha đất sạch tại các KCN, CCN để thu hút các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước.

Củng cố hệ thống điện tại địa bàn đặc biệt khó khăn

Củng cố hệ thống điện tại địa bàn đặc biệt khó khăn

Thời gian qua, Đội Quản lý điện lực khu vực Lục Yên đã triển khai nhiều giải pháp hiệu quả nhằm củng cố hệ thống điện tại các khu vực thôn, bản đặc biệt khó khăn. Đây là những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế, nơi người dân phải tự kéo điện bằng các vật liệu không đảm bảo dẫn đến nguồn điện yếu, tổn thất cao, ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt và sản xuất.

Tạo sự đột phá từ sức dân

Tạo sự đột phá từ sức dân

Xác định hạ tầng giao thông nông thôn là khâu đột phá, xã Minh Lương đã lựa chọn cách làm phù hợp với điều kiện thực tế: Phát huy tối đa vai trò chủ thể của người dân, lấy sự đồng thuận làm nền tảng để triển khai các công trình. Cách làm này không chỉ giúp phát huy nguồn lực, mà còn tạo ra sự bền vững, trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

Dồn lực “làm sạch” hạ tầng khu công nghiệp

Dồn lực “làm sạch” hạ tầng khu công nghiệp

Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, ngay từ những ngày đầu năm 2026, các sở, ban, ngành đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tạo lập quỹ đất "sạch" đón nhà đầu tư. Với phương châm chuẩn bị hạ tầng phải đi trước một bước, tỉnh quyết định rà soát tổng thể, kiên quyết thu hồi các dự án chậm tiến độ và dồn nguồn lực đầu tư công để hoàn thiện hạ tầng, nhất là tại các khu công nghiệp trọng điểm.

Thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án trọng điểm xử lý ngập úng ven sông Hồng

Thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án trọng điểm xử lý ngập úng ven sông Hồng

Chiều 2/2, UBND tỉnh Lào Cai tổ chức Hội nghị thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, nguồn vốn và khả năng cân đối vốn Dự án "Khắc phục, xử lý tình trạng ngập, úng ven sông Hồng, khu vực trung tâm tỉnh Lào Cai và vùng phụ cận". Đồng chí Nguyễn Thế Phước - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chủ trì hội nghị.

fb yt zl tw