LCĐT - Vùng Mường San xưa có một nhà người Giáy khá giả, lắm ruộng, nhiều trâu. Con trai nhà ấy khỏe mạnh, mặt mũi khôi ngô, được bố mẹ cho ăn học giỏi giang. Bé thì đón thầy về dạy. Lớn thì ra tỉnh học, đem về tấm bằng danh giá. Con gái nhà ấy đẹp rạng ngời, mắt sáng, mũi thẳng, dáng đi duyên dáng. Cô nào cũng nết na, giỏi làm ruộng làm nương, khéo đồ xôi làm bánh, khéo thêu thùa.
Tùng San là con trai nhà ấy. Tùng San cao lớn thanh thoát, vừa giỏi mọi việc, vừa là thợ săn thiện xạ. Tùng San nói cười vui vẻ, người già nghe thấy quý, người trẻ nghe vui lòng, bạn bè nghe tâm đầu ý hợp, đi đến đâu cũng có người cùng trang lứa kết thân. Thấy dáng người, nghe tiếng nói, thấy ánh mắt Tùng San là bao cô gái trong vùng bẽn lẽn, xao xuyến, phấp phỏng ước mơ.
Tùng San có giọng hát “vươn” Giáy rất hay, hát tự nhiên như thủ thỉ trò chuyện, giọng hát như ngọn lửa ấm, như nước suối trong, như gió thổi êm ru. Hát lâu mà vẫn bền hơi, chả khản giọng. Tùng San thuộc nhiều bài “vươn chang hằm”. Bao nhiêu bài hát xếp nén lại trong lòng, gặp cuộc hát là từng bài thức dậy, cất nên lời theo lớp lang mở cửa, chào hỏi, mời mọc, đối đáp, giãi bày, níu kéo, chia tay và hò hẹn…Bao nhiêu bài từ đời xưa truyền lại. Có bài hát tự ứng khẩu mà êm ái, thuận điệu thuận lời chả khác gì câu hát vốn liếng lưu truyền.
Mùa màng xong xuôi, Tùng San đi hát ở Làng Quang, Làng Kim, hát ở Na Rin, hát ở Mường Hum. Tùng San vượt đèo sang Mường So đem tiếng hát vươn kết giao thi thố. Trong đêm hát ấy, có cô gái Thái bị tiếng hát của Tùng San cuốn hút. Đôi tai cô gái Thái chỉ hiểu lõm bõm lời bài vươn Giáy, nhưng giọng hát, điệu hát thì thấm như ruộng khô thấm nước. Người con trai phương xa đến hát đã in vào cô gái ấy. Hai ánh mắt gặp nhau gắn kết giao hòa.
![]() |
| Minh họa của Trung Hiếu (Bảo tàng tỉnh Yên Bái) |
Cô gái ấy là Thàng Thị Pằn. Ngay từ khi mới mười ba tuổi, Pằn xinh đẹp nức tiếng khắp vùng. Tiếng đồn đến tai chúa đất họ Đèo. Y cho người đến nhìn tận mắt, rồi bắt về xem mặt. Y đắc ý và giữ luôn Pằn ở lại nhập vào đội xòe của mình. Pằn rùng mình sợ hãi, tìm cách trốn về nhà. Pằn trốn thì có cô gái khác, may mà chúa đất chả truy bắt trở lại. Bây giờ thì Pằn đã trở thành bông hoa rực rỡ của Pa Tần. Khăn piêu, áo cóm, váy đen, chuỗi dây bạc buông võng, Pằn như bông hoa nổi bật giữa phiên chợ đông vui. Bao nhiêu ánh mắt ngó sang, ngoái lại ngắm nhìn. Chợ tan, Pằn ở lại nhà người quen và dự đêm hát. Tùng San gặp Pằn trong đêm hát duyên số ấy.
Phải duyên phải số nhau rồi, Tùng San đặt Pằn lên lưng ngựa và vượt đèo về phía chân núi bên kia. Pằn nửa như chằn xuống nhưng tay thì níu lên lưng ngựa. Suốt dọc đường đèo dốc, Pằn ngồi gọn trong vòng tay Tùng San vừa khiển dây cương vừa xiết ôm Pằn vào lòng. Lời Tùng San thủ thỉ bên tai Pằn. Người ta nói: “Ruộng ven suối đừng làm. Vợ mường xa chớ lấy”. Nhưng ta yêu em, mường xa thành mường gần rồi. Bao nhiêu lâu ta mong tìm một người như “ruộng khô mong nước”. Nay ta gặp em rồi. Ruộng khô gặp nước rồi. “Cơm ở ruộng, cá ở suối”. Ta sẽ cùng em làm ăn, “gà vịt đầy sân, ngựa trâu đầy núi”. Ta sẽ cùng em sinh con đẻ cái, mường trên mường dưới trông thấy ngợi khen.
Tùng San đưa Pằn về nhà. Họ hàng cử người đưa lễ sang nhà gái. Ở nhà, đám cưới tưng bừng diễn ra. Cả Mường San đến chúc mừng. Khách từ mường gần mường xa đến uống rượu. Tiếng kèn pí lè rộn ràng trong tiệc rượu nồng say.
Năm sau, một bé gái được đón ánh mặt trời. Bé gái ấy có đôi mắt tròn đen láy sáng trong. Vẻ đẹp của mẹ và của bố kết tụ trong gương mặt bé. Bé được đặt tên là Khun Lèn, nghĩa là vẻ dung nhan duyên dáng sáng sủa của nàng tiên. Khun Lèn là tiên của bố mẹ, của cả nhà, của xứ sở này. Khun Lèn lớn lên từng ngày trong vòng tay ôm ấp của mẹ Pằn, trong ánh mắt yêu thương của bố và của mọi người trong nhà.
Dân mường dưới mường trên chỉ mong mưa thuận gió hòa, để lúa dày bông chắc hạt, sàn đầy thóc, gà vịt đầy sân, ngựa trâu đầy núi, nhưng giặc Pháp hung ác chả để cho mường trên mường dưới được yên. Nhà Tùng San khá giả bị bọn chúng dòm ngó. Anh em nhà Tùng San nghe phong thanh người ngoài tỉnh bắt liên lạc với người của Việt Minh bàn tính việc đánh Pháp đuổi Nhật. Lửa cứ âm ỉ nhen nhóm. Mấy anh em bí mật đi về.
Chẳng may, Tùng San bị sa vào nanh vuốt kẻ thù. Chúng trói anh lại và thúc báng súng vào lưng đẩy về đồn. Nhân lúc sơ sểnh, Tùng San vụt chạy và luồn mất hút. Dẫu thuộc rừng thuộc suối nhưng Tùng San đã không thoát được bước chân truy tìm của lũ giặc ranh ma hung hãn. Anh cố tẩu thoát lần nữa nhưng loạt đạn kẻ thù đã bắn anh gục ngã. Máu anh loang đỏ khe nước chảy về con suối đang dội thác ào ào.
Tin dữ về đến Bản Vền, Pằn ôm con ngã vật xuống đất. Bé Khun Lèn ngơ ngác bật khóc theo. Thế là từ đây Khun Lèn là đứa trẻ mồ côi cha. Nét u buồn và những giọt nước mắt in vào đôi mắt bé thơ, làm cho Khun Lèn khóc nức lên như giận hờn. Khun Lèn theo mẹ về Sìn Hồ...
* * *
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Ông Vương về Hà Nội dự lớp đào tạo cán bộ miền núi và gặp một người bạn ở Sìn Hồ - Lai Châu. Thổ lộ tâm sự với bạn, giọng ông Vương chùng xuống, trầm buồn:
- Mình có đứa cháu gái ở Sìn Hồ đấy. Nó ở Pa Tần. Cháu gái tôi là Khun Lèn! Năm nay nó hơn mười tuổi rồi. Hơn mười năm chả có tin tức gì. Chả biết nó sướng khổ ra sao!
Kháng chiến gian khổ, dốc đèo rừng núi cách trở, hòa bình thì công việc bộn bề, ông chưa có dịp nào lặn lội đi tìm lại đứa cháu tội nghiệp của mình.
- Biết nó ở Pa Tần, mình sẽ tìm giúp đồng chí.
- Thế thì tốt quá!
Gặp được người bạn Sìn Hồ, ông Vương phấp phỏng mong tìm ra cháu mình. Dịp ấy, đồng chí bên Sìn Hồ về nhà rồi xuống đến nơi và khoe với ông:
- Tôi đã gặp cháu gái Khun Lèn của ông. Nó giống mẹ. Mẹ nó không còn trẻ, vất vả nhiều nhưng vẫn đẹp. Anh trai đồng chí tinh mắt thật.
Còn lâu lâu mới xong lớp, nhưng ông Vương đã ra phố tìm mua quần áo cho Khun Lèn, khẩn khoản nhờ đồng chí Sìn Hồ tìm cách giúp cháu được trở về bên này.
Đồng chí ở Sìn Hồ gật đầu và nghĩ cách nhờ các anh trong đoàn vận tải giúp đưa Khun Lèn sang Lào Cai bằng ngựa thồ. Ngồi lắc lư trên lưng ngựa mà Khun Lèn mồ hôi bết tóc.
* * *
Thế là Khun Lèn đã gặp chú Vương. Người bạn Sìn Hồ tốt quá. Đúng là rễ cây ngắn, rễ người dài. Núi có đèo có dốc, lòng người không có dốc, không có đèo. Ông Vương ôm Khun Lèn vào lòng: “Cháu tôi đây rồi. Con của anh Tùng San đây rồi. Đúng cái mắt này đây, cái trán này đây, cái miệng này đây”.
Khun Lèn được đưa đến học ở trường thiếu nhi vùng cao. Bẽn lẽn và bỡ ngỡ, nhưng Khun Lèn náo nức vô cùng. Ở bên Pa Tần, có lớp học mới mở, nhưng Khun Lèn chả được đi học. Bố dượng và mẹ đi làm, Lèn phải trông ba đứa em lít nhít, phải chăm đàn lợn, đàn gà, bao nhiêu việc nhà đè lên đầu lên vai lên cổ. Bớt việc rồi, Lèn lưng địu, tay dắt một lũ em, mon men đến bên cửa lớp đứng xem các bạn học bài. Lèn mấp máy đọc theo. Rồi đặt em tha thẩn lê la bò dưới đất, Lèn lấy lá chuối làm giấy, lấy que nứa làm bút, hí hoáy viết chữ. Thầy giáo nhìn ra, thương quá. Lèn luýnh quýnh lưng địu tay dắt lũ em lếch thếch chạy về.
Bây giờ Lèn được đi học rồi. Học trong trường trong lớp hẳn hoi. Dạy lớp Lèn là cô giáo Chấn cũng là người Giáy. Cô giáo Chấn trắng trẻo, ánh mắt dịu dàng, đôi môi đỏ tươi, lúc nào cũng cười. Lèn sáng dạ, tập đọc trôi chảy, làm tính nhanh, học bài nào vào lòng vào dạ bài ấy, lại biết thêm bao điều khác nữa. Chú Vương bảo Lèn học cho giỏi sau này đi làm cô giáo. Cô giáo Chấn cũng bảo Lèn sẽ thành cô giáo như cô và còn giỏi hơn cô. Nghe lời chú Vương, nghe lời cô giáo, Lèn thấy nóng nóng hai tai.
Lèn vui bạn vui bè, mải mê học tập. Cũng có lúc nghỉ ngơi, Lèn nhìn lên dãy núi cao, lòng bâng khuâng nhớ mẹ, nhớ các em. Phía bên kia dãy núi cao là Pa Tần, nơi có ngôi nhà sàn cũ, có cầu thang chín bậc, mẹ gánh nước bước lên, các em lũn cũn bấu vào từng bậc bò lên. Con lợn sề ụt ịt dưới gầm sàn. Đàn gà tíu tít tụ lại chờ tay Lèn vãi thóc. Nhớ lắm, thương lắm. Đôi mắt Lèn ầng ậc nước. Lèn đứng vụt dậy, chân bước đi để không bật khóc.
Thời gian thấm thoắt trôi. Lèn học xong cấp một. Lèn học tiếp lên cấp hai. Lèn thành thiếu nữ xinh tươi. Lèn được gọi đi học trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp hai. Bây giờ thì Lèn đã thành cô giáo, cô giáo trẻ Khun Lèn, dạy học ngay tại trường học ở quê cha. Mẹ Lèn đã trên lưng ngựa, trong vòng tay của chàng trai người Giáy về làm dâu ở xứ sở này, đã sinh ra Lèn ở mảnh đất này. Mẹ Lèn đã ăn cơm gạo ruộng nương nơi này, uống nước dòng suối nơi này để tứa ra dòng sữa ngọt thơm nuôi Lèn những ngày tháng đầu đời. Phía kia là nơi bố Lèn đã ngã xuống dưới làn đạn lũ giặc.
Lèn dạy học trò những bài học mới. Lèn học nấu cơm đồ chõ ngày thường, học làm các thức món cổ truyền, học những câu tục ngữ Giáy, “Anh em ruột thịt, dao chặt không đứt”, “Rễ cây ngắn rễ người dài”, “Lấy lý làm sức”, “Dại không nhiều, khôn không hết”, bao nhiêu là câu hay câu quý. Lèn học hát vươn Giáy.
Thương nhớ người mẹ vất vả tảo tần, thương nhớ những đứa em thơ dại và mối dây duyên tình, Khun Lèn chia tay Bát Xát, chia tay Lào Cai vượt dốc đèo, trở về Pa Tần, Sìn Hồ làm cô giáo gắn bó với mái trường và trẻ em người Thái. Lũ trẻ bên ấy bên này khác nhau giọng nói, khác nhau chiếc áo tấm khăn nhưng vẫn hệt nhau những bàn chân đất lấm lem, những bàn tay đen đúa và những đôi mắt sáng, những nụ cười tươi, những vô tư đùa nghịch, những véo von tiếng hát cùng cô giáo quây quần.
Cô giáo Khun Lèn đẹp xinh cuốn hút học trò. Cô giáo Khun Lèn thu hút bao ánh mắt trong hội xòe rộn ràng nhịp trống chiêng và tiếng đàn tính. Khun Lèn nổi trội trong hội ném còn, khăn piêu, áo cóm, váy dài và ánh mắt lúng liếng theo quả còn vút lên cao. Những cuộc chơi tó má lẹ, tả én cáy (*), những điệu múa khăn, múa quạt, những cuộc rượu xuân hát đối…Khun Lèn hòa vào chúng bạn, hòa vào dân bản để rủ người lớn đi học, để cuốn học sinh đến trường…
* * *
Bây giờ, cô giáo Khun Lèn năm xưa đã thành bà giáo già. Cuộc sống đổi thay, bà giáo Khun Lèn muốn lưu truyền cho cánh trẻ khúc dân ca, điệu xòe, đường kim mũi chỉ thêu thùa, khăn piêu, áo cóm, váy dài, dây bạc, những món ăn phò cay, nhắm làm, mó xủm pẳng, tào cồn, khẩu chén (**) của người Thái. Và Khun Lèn vẫn nhớ tấm khăn, áo chéo vạt viền cổ của cô gái Giáy duyên dáng, nhớ bánh gù, bánh chân gà, bánh nếp, bánh rán dầu vừng, khâu nhục, thịt quay của xứ sở quê hương.
Vượt dốc đèo sang gặp lại thầy xưa bạn cũ, Khun Lèn nâng chén rượu, miệng hát, mắt nhìn, khuôn mặt ánh lên niềm vui quên tuổi tác, tiếng hát thiết tha, “mơi pi chảu khắm chẻn lẩu… nè bàn ơi”, mời thày cô, mời bạn, mời anh, mời chị, mời các em cùng nâng chén rượu và giữ mãi tình cũ nghĩa xưa, chẳng quản chi dốc thẳm đèo cao…
----------------
(*) Những trò chơi của người Thái.
(**) Những món ăn của người Thái.
