Chuẩn hóa giáo dục ở vùng trung du, miền núi Bắc Bộ

Là địa bàn có vị trí đặc biệt quan trọng, luôn được quan tâm chăm lo phát triển nhưng chất lượng giáo dục và đào tạo vùng trung du, miền núi Bắc Bộ vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy, ngành giáo dục cùng các địa phương trong vùng đã đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tạo chuyển biến tích cực về quy mô và chất lượng giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân cũng như yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng.

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có 10.900 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, với khoảng 3,3 triệu trẻ mầm non và học sinh. Những năm qua, ngành giáo dục và các địa phương trong vùng triển khai nhiều cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến tích cực về quy mô và chất lượng giáo dục và đào tạo.

Các tỉnh đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Bộ Giáo dục và Đào tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn mỗi địa phương. Một số địa phương đã có các chính sách đặc thù tạo chuyển biến tích cực về quy mô và chất lượng giáo dục, góp phần thu hẹp dần khoảng cách giữa các địa bàn.

Các chính sách phát triển nguồn nhân lực, công tác xóa mù chữ, thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm, đẩy mạnh. Việc sắp xếp lại các cơ sở giáo dục tiểu học, THCS theo hướng phát triển mô hình trường bán trú, nội trú, đưa học sinh các điểm trường về các điểm trường chính, trung tâm để học tập đã giúp giảm các điểm trường lẻ, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.

Giờ thực hành tin học ở Trường THPT chuyên Sơn La. (Ảnh MINH HÀ)
Giờ thực hành tin học ở Trường THPT chuyên Sơn La. 

Theo Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Hữu Độ, kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục THCS vùng trung du, miền núi Bắc Bộ được củng cố, duy trì với các chỉ tiêu thành phần được nâng cao. Đáng chú ý, thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác xóa mù chữ, các địa phương đã ban hành các chương trình, kế hoạch đẩy mạnh công tác xóa mù chữ tại địa phương, trong đó ưu tiên xóa mù chữ cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn.

Đến nay, 100% đơn vị cấp tỉnh, huyện, xã đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 1; 64,3% đơn vị cấp tỉnh, 84,7% đơn vị cấp huyện và 93,8% đơn vị cấp xã đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. Năm học 2021-2022, tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của vùng là 57,97%, cao hơn 6,02% so với bình quân chung cả nước (51,92%); tỷ lệ trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia của vùng là 69,22%, cao hơn 1,11% so với mức bình quân chung toàn quốc (68,11%); tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT toàn vùng đạt 98,65% (cao hơn bình quân cả nước 0,08%).

Mặc dù đạt được nhiều bước tiến đáng kể nhưng với đặc thù địa hình đồi núi, vùng sâu, vùng xa, phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống cho nên giáo dục và đào tạo vùng trung du, miền núi Bắc Bộ chưa thật sự đáp ứng yêu cầu phát triển. Quy hoạch mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Cơ cấu giáo viên giữa các môn học, cấp học chưa đồng bộ, vẫn còn tình trạng thừa, thiếu cục bộ tại các địa phương, trường học.

Toàn vùng có 115.668 phòng học các cấp mầm non, phổ thông công lập; trong đó có 89.973 phòng học kiên cố, đạt tỷ lệ 77,8%, thấp hơn 7,6% so với bình quân chung của cả nước. Từ năm học 2022-2023, Tin học và Ngoại ngữ là hai môn bắt buộc từ lớp 3 theo Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018. Tuy nhiên, đối với vùng trung du, miền núi Bắc Bộ, phòng học bộ môn Tin học, số lượng máy tính chỉ ở mức cơ bản, đa phần là cấu hình thấp, trang bị từ lâu, không đồng bộ, hạn chế trong việc cài đặt phần mềm mới để đáp ứng nhu cầu dạy học. Trong khi đó, phòng học Ngoại ngữ, số lượng thiết bị chuyên dùng còn hạn chế, chủ yếu là những thiết bị cầm tay, đơn chiếc phục vụ cho việc giảng dạy của giáo viên.

Đáng chú ý, năm học 2022- 2023 một số địa phương không tuyển đủ số biên chế giáo viên được giao; có địa phương tổ chức thi tuyển, ứng viên đã thi đỗ nhưng sau đó không đến tiếp nhận công việc, nhất là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn.

Số lượng giáo viên bỏ việc, ra khỏi ngành có xu hướng gia tăng ở một số địa bàn khó khăn làm tăng thêm áp lực thiếu giáo viên. Tỷ lệ giáo viên chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo theo Luật Giáo dục năm 2019 còn cao, trong đó tỷ lệ giáo viên tiểu học, THCS chưa đạt chuẩn cao nhất cả nước; giáo viên có năng lực chuyên môn giỏi còn ít.

Để từng bước phát triển giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, ngành giáo dục cùng các địa phương xác định, đến năm 2030, giáo dục và đào tạo của vùng trung du, miền núi Bắc Bộ cần đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng cơ bản chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa.

Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, bao gồm: Giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực ngoại ngữ, tin học; cơ bản đáp ứng được nhu cầu nhân lực phát triển kinh tế -xã hội của vùng; tăng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng cao cho đồng bào, tạo điều kiện cho người dân học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập. Đến năm 2030, các chỉ tiêu về chất lượng giáo dục, đào tạo của vùng tiệm cận với mặt bằng chung của cả nước.

Theo Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn, trong chặng đường trước mắt, vùng trung du, miền núi Bắc Bộ cần hài hòa giữa phát triển giáo dục mũi nhọn và giáo dục đại trà với các mức độ khác nhau. Trong đó, vấn đề số một của vùng là phổ cập, nâng cao dân trí, sau đó mới nói về các vấn đề khác.

Mục tiêu quan trọng là giảm đến mức thấp nhất mù chữ, tái mù chữ; bảo đảm con em đồng bào các dân tộc được đi học, có trình độ giáo dục tối thiểu để có thể thay đổi được đời sống của chính mình. Thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tiến hành rà soát cơ chế, chính sách với khu vực theo hướng gọn lại, tích hợp nhưng cần mang tính đột phá.

Trong đó, hai vấn đề cần ưu tiên đột phá là: Bằng mọi biện pháp, tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong xây dựng đội ngũ giáo viên; đồng thời giải quyết các vấn đề về cơ sở vật chất, trường lớp, để cố gắng đến năm 2030 toàn vùng sẽ không còn phòng học tạm…

Báo Nhân Dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Gần 60 đoàn viên tham gia mô hình “Giọt hồng nhân ái”

Gần 60 đoàn viên tham gia mô hình “Giọt hồng nhân ái”

Ngày 19/3, Chi đoàn Thanh niên Bệnh viện Đa khoa số 3 tỉnh Lào Cai và Chi đoàn Thanh niên Công an phường Nghĩa Lộ tổ chức lễ kết nghĩa, ra mắt mô hình “Giọt hồng nhân ái”, thu hút gần 60 đoàn viên là y, bác sĩ và chiến sĩ công an tham gia, góp phần lan tỏa tinh thần tình nguyện vì cộng đồng.

Hoàn thiện, phát huy hiệu quả thiết chế văn hóa cơ sở

Hoàn thiện, phát huy hiệu quả thiết chế văn hóa cơ sở

Thiết chế văn hóa cơ sở đang ngày càng phát huy vai trò trong đời sống người dân trên địa bàn tỉnh Lào Cai, không chỉ là nơi hội họp mà còn trở thành không gian sinh hoạt chung, góp phần duy trì, lan tỏa đời sống văn hóa, tăng cường gắn kết cộng đồng và gìn giữ bản sắc. Tuy nhiên, từ thực tiễn cơ sở vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục được quan tâm.

Lào Cai triển khai quyết liệt nhiệm vụ phát triển người tham gia, giảm nợ bảo hiểm xã hội

Lào Cai triển khai quyết liệt nhiệm vụ phát triển người tham gia, giảm nợ bảo hiểm xã hội

Sáng 20/3, Bảo hiểm xã hội tỉnh Lào Cai tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai nhiệm vụ công tác phát triển người tham gia, thu và giảm tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp năm 2026. Hội nghị được kết nối từ điểm cầu trung tâm tới 14 điểm cầu bảo hiểm xã hội cơ sở và các tổ chức dịch vụ thu trên địa bàn.

Những thước đo của hạnh phúc

Những thước đo của hạnh phúc

Ngày 20/3 hằng năm được Liên hợp quốc chọn là Ngày quốc tế Hạnh phúc, dịp để nhìn lại ý nghĩa của hạnh phúc đối với con người và sự phát triển xã hội. Nhưng hạnh phúc của một quốc gia được đo lường ra sao?

150 thành viên đội xung kích cấp xã được tập huấn nâng cao năng lực ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai

150 thành viên đội xung kích cấp xã được tập huấn nâng cao năng lực ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai

Từ ngày 15 - 20/3, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Lào Cai tổ chức 6 lớp tập huấn nhằm nâng cao năng lực, kỹ năng chuẩn bị, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai cho đội xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã thuộc Dự án “Lời kêu gọi khẩn cấp để khắc phục hậu quả, ứng phó, phục hồi và tái thiết sau cơn bão số 3 và hoàn lưu sau bão năm 2024” giai đoạn 2.

Mốc thời gian chính của thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 thí sinh cần nhớ

Mốc thời gian chính của thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 thí sinh cần nhớ

Từ ngày 24/4 thí sinh sẽ bắt đầu đăng ký dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026, sau đó dự thi vào các ngày 11 và 12/6. Kết quả thi được công bố ngày 1/7, kết quả xét tốt nghiệp có chậm nhất ngày 4/7. Dưới đây là các mốc thời gian do Bộ giáo dục và Đào tạo hướng dẫn, thí sinh cần nhớ để chuẩn bị tốt cho Kỳ thi. 

Chắp cánh ước mơ từ mô hình “Trường học yêu thương”

Chắp cánh ước mơ từ mô hình “Trường học yêu thương”

Tại Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Tân Nguyên (xã Bảo Ái), mô hình “Trường học yêu thương” được duy trì với nhiều việc làm thiết thực. Mỗi thầy - cô giáo tự nguyện nhận đỡ đầu học sinh hoàn cảnh khó khăn, đồng hành từ học tập đến sinh hoạt hằng ngày. Sự sẻ chia ấy đang góp phần nuôi dưỡng môi trường giáo dục giàu tình yêu thương.

fb yt zl tw