Giáo sư Vũ Khiêu - Một trí thức uyên bác, nhà văn hóa tiêu biểu

Lịch sử đất nước như dòng chảy lớn mà mỗi thế kỷ đều được tiếp truyền phù sa bởi những sự kiện-nhân vật tiêu biểu. Là một đại trí thức Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, Vũ Khiêu là một hiền tài sống động, tỏa sáng uyên bác, tâm hồn giàu đẹp, cốt cách cao quý và trái tim nhân ái.

Cuộc đời cống hiến đầy sáng tạo và sự nghiệp vinh quang của GS Vũ Khiêu toát ra sức hút của một trí tuệ và tài hoa hiếm biệt.

GS Vũ Khiêu tên đầy đủ là Đặng Vũ Khiêu, sinh ngày 19-9-1916 tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho giáo, là người được thừa hưởng truyền thống hiếu học của gia tộc Đặng Vũ, nhưng đích thực lại là người họ Vũ. Sau khi tốt nghiệp tú tài trường Bonnal (nay là trường PTTH Ngô Quyền-Hải Phòng) từ thời thuộc Pháp, ông đã mê nghiên cứu văn hóa Đông-Tây, từ cổ đại đến hiện đại. Năm 1935, ông về Hà Nội dạy học và đi theo cách mạng. Với vốn kiến thức được tích lũy trong suốt cuộc đời, ông trở thành một nhà nghiên cứu văn hóa lớn. Cuộc đời cách mạng và công tác của GS Vũ Khiêu phần lớn gắn bó với Hà Nội.

GS Vũ Khiêu là trí thức tham gia cách mạng từ rất sớm và đã từng hoạt động trên các lĩnh vực: Công tác Đảng, dân vận, chính quyền, quân đội và đối ngoại.

Giáo sư Vũ Khiêu - Một trí thức uyên bác, nhà văn hóa tiêu biểu
 GS, AHLĐ, NGND Vũ Khiêu (bên trái) chụp cùng tác giả.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông được phân công làm công tác tuyên huấn ở Khu 10, rồi Tây Bắc, trực tiếp có mặt tại tiền tuyến từ Chiến dịch Biên giới năm 1950, đến Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Sau năm 1954, ông chuyển từ công tác tuyên huấn sang làm công tác nghiên cứu. Ông cũng tham gia giảng dạy triết học và lý luận khoa học xã hội cho các trường Đảng và các trường đại học. Năm 1959, ông làm Thư ký khoa học xã hội của Ủy ban Khoa học Việt Nam, sau đó được tín nhiệm giao trọng trách làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Phó tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam. Ông là viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học, là người đặt nền móng cho sự phát triển của ngành xã hội học và ngành mỹ học ở Việt Nam. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, nghiên cứu khoa học, giảng dạy và viết sách của mình, GS Vũ Khiêu đã xuất bản hàng trăm tác phẩm có giá trị, trong đó có hơn 60 đầu sách viết chung và viết riêng trên nhiều lĩnh vực như: Triết học, đạo đức học, văn học, nghệ thuật, văn hóa, xã hội, nghiên cứu và giới thiệu thơ văn, cuộc đời một số thi hào... Các tác phẩm tiêu biểu như: Đẹp (1963), Cao Bá Quát (1970), Ngô Thì Nhậm (1976), Anh hùng và Nghệ sỹ (1972), Cách mạng và Nghệ thuật (1979), Nguyễn Trãi (1980).

Về hoạt động đối ngoại, ông có nhiều đóng góp, sáng lập viên tham gia thành lập Hội Xã hội học các nước xã hội chủ nghĩa; giúp Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên điều hành nhiều hội thảo quốc tế của UNESCO tại Việt Nam; cùng Giám đốc Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp chủ trì nhiều cuộc hội thảo về nho giáo tại Việt Nam và Paris...

Đầu năm 2017, GS Vũ Khiêu đã vinh dự được tặng huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Trước đó, ông được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý như: Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Huân chương Độc lập hạng Nhất, công dân ưu tú Thủ đô trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội... Dấu ấn GS Vũ Khiêu trên nhiều mặt của văn hóa, cống hiến xuyên thế kỷ bằng sự đa dạng, bền bỉ phi thường. Viết, chủ biên những bộ sách lớn, chủ trì các hội thảo, hướng dẫn và xây dựng nhiều công trình khoa học xã hội, Vũ Khiêu là một học giả đa tài mà uy tín khiến giới khoa học, trí thức nể trọng, nhân dân cả nước mộ phục.

Cổ văn là sở trường của ông, khó cây bút nào của nền văn học Việt Nam đương đại bì kịp. Mảng văn tế, văn bia, minh phú, câu đối, ông là chuyên gia số 1. Thể cổ văn đòi hỏi sự tuân chỉnh niêm luật chặt chẽ, lại chứa đựng vốn kiến thức lịch sử, văn học sử phong phú, từ vựng dồi dào, nhạc điệu trầm hùng, khí phách... Tất cả đều được Vũ Khiêu thể hiện bằng tài năng, xúc cảm, tạo nên những tác phẩm gây xúc động nhân quần. Đọc những bài văn bia, nghe văn tế Giỗ tổ Hùng Vương, đều thấy đó là những áng văn kinh điển đạt độ tuyệt hảo của trí lực, thần thái, cuốn hút. Có những bài như tráng ca, lại có những đoạn mà mỗi con chữ ứa tràn nước mắt. Sự thật là không ít lần ông đã khóc vì đồng bào của mình. Đó là lúc viết Văn tế những người chết đói năm 1945, sau khi đã chứng kiến hàng triệu người chết đói ngổn ngang khắp Hà Nội và Nam Định. Đó là khi ông trắng đêm viết những văn bia, bài cầu siêu cho linh hồn các liệt sĩ thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thông thạo Hán Nôm là thế, ông lại thường viết câu đối bằng tiếng Việt, thêm một cách thể hiện, phát triển quốc ngữ.

Không ngừng vận động, học và đọc không ngừng, GS Vũ Khiêu đã đặt chân tới hầu hết các địa phương khắp nước Việt, đến nhiều nước trên thế giới, từ châu Á sang châu Âu qua châu Mỹ. Ở ông, sự kết hợp cổ điển của phương Đông và phóng khoáng, hiện đại của phương Tây hòa quyện thành phong thái tư duy: Vừa trầm sâu, thâm thúy vừa giàu sức đột khởi, sáng tạo.

Những đúc kết và ý tưởng mang tầm thời đại, không lệ thuộc vào một hoàn cảnh xã hội cụ thể sẽ có sức sống trường tồn. Với sức lao động phi thường, không quản ngày đêm trong những năm tháng cuối đời, GS Vũ Khiêu vẫn miệt mài làm việc. Không hổ danh là một lão thành cách mạng, một nhân sĩ trí thức tiêu biểu, một nhà khoa học lớn của đất nước, càng tuổi cao ông càng ấp ủ và biên soạn nhiều tác phẩm có giá trị. Khi bước vào tuổi thượng thọ, ông vẫn hoàn thành xuất sắc bộ sách 3 tập "Văn hiến Thăng Long", dày tới 2.400 trang, bộ sách đã được xuất bản trong sự vui mừng và cảm phục của các nhà lãnh đạo, giới nghiên cứu lịch sử, văn hóa, mỹ học và đông đảo bạn đọc. Đây là món quà tinh thần đặc biệt quý giá mà GS Vũ Khiêu dâng tặng Thăng Long-Hà Nội. Là một học giả nổi tiếng về nghiên cứu văn hóa Việt Nam, ông từng là người được các cơ quan, tập thể và cá nhân trân trọng, chào đón; coi sự xuất hiện của ông tại sự kiện là một vinh dự. Song, ông không vì thế mà tỏ ra kiêu ngạo, luôn nhẹ nhàng, từ tốn, nho nhã; ăn nói chừng mực, đúng chuẩn của một kẻ sĩ.

Không phải ai cũng có được nguồn năng lượng như GS Vũ Khiêu. Và không phải ai cũng làm được kỳ tích như GS Vũ Khiêu-một hiện tượng hiếm có trong đời sống xã hội hôm nay. GS Vũ Khiêu và những hiền tài của đất nước qua nhiều thế hệ đã và đang tiếp nối, nuôi dưỡng dòng tinh hoa bất tận của dân tộc. Cuộc đời chiến đấu, lao động sáng tạo và cống hiến xuất sắc của GS Vũ Khiêu là tấm gương truyền cảm hứng về lòng yêu nước, yêu văn hóa dân tộc về tinh thần trách nhiệm, năng lượng sống và niềm tin hướng tới tương lai.

Là một nhà văn hóa lớn, GS Vũ Khiêu luôn có tư tưởng trăm họ là toàn dân nên củng cố đoàn kết dân tộc phải chú ý xây dựng khối đoàn kết trong từng dòng họ. GS đã có đóng góp không nhỏ cho việc phát triển truyền thống các dòng họ, đặc biệt đã dày công vun đắp cho sự phát triển của dòng họ Vũ-Võ Việt Nam.

Xin được kính cẩn nghiêng mình vĩnh biệt GS, AHLĐ, NGND Vũ Khiêu với niềm tiếc thương vô hạn.

Quân đội nhân dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Lên đỉnh Sán Trá, nghe “đất kể chuyện người”

Lên đỉnh Sán Trá, nghe “đất kể chuyện người”

Trên đỉnh Sán Trá, xã Hạnh Phúc, cuộc sống mới nơi bản tái định cư đã thực sự bắt đầu. Từ cuộc di dời trong hoảng hốt, 18 hộ dân nơi đây đang cùng nhau xây dựng tương lai, mang theo cả tình làng nghĩa xóm và những ước vọng chưa bao giờ cũ.

Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai sau một năm thi công

Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai sau một năm thi công

Sau một năm kể từ ngày khởi công (1/10/2025), Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đoạn Yên Bái - Lào Cai đang bước vào giai đoạn thi công nước rút. Nhiều hạng mục quan trọng đã cơ bản hoàn thành, hình hài tuyến cao tốc 4 làn xe dài hơn 121 km đang dần hiện rõ trên công trường.

Tiết học biên cương nơi sông Hồng chảy vào đất Việt

Tiết học biên cương nơi sông Hồng chảy vào đất Việt

Sáng 1/10, tại cột cờ Lũng Pô, xã A Mú Sung, tỉnh Lào Cai, học sinh Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS A Mú Sung tham gia “Tiết học biên cương”, tìm hiểu đường biên, mốc quốc giới, quan sát bộ đội thực hành tuần tra và tham gia lễ chào cờ. Qua trải nghiệm thực tế, các em hiểu thêm quê hương, công việc của người lính và trách nhiệm gìn giữ biên giới quốc gia.

Bài cuối: Dựa vào sức dân “giữ sạch” địa bàn

QUYẾT TÂM XÂY DỰNG “THẾ TRẬN” KHÔNG MA TUÝ Bài cuối: Dựa vào sức dân “giữ sạch” địa bàn

Giữ sạch địa bàn không chỉ bằng những đợt truy quét, xử lý mà cần sức mạnh từ mỗi gia đình, khu dân cư. Khi người dân chủ động phòng ngừa, phát hiện, cung cấp thông tin và cùng hỗ trợ người sau cai tái hòa nhập, một “thế trận lòng dân” đang được hình thành để ngăn ma túy quay trở lại.

Bài 1: Cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở

Quyết tâm xây dựng “thế trận” không ma tuý Bài 1: Cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở

Lào Cai đã triển khai cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng 100% xã, phường không ma túy trong năm 2026. Nghị quyết 51 - NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy được cụ thể hóa bằng việc huy động cả hệ thống chính trị, dồn lực giải quyết những điểm khó và gắn kết quả với trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy.

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Ở những bản làng người Bố Y hôm nay, hạnh phúc là cuộc sống đủ đầy, là tiếng nói, trang phục, phong tục và sự gắn kết cộng đồng được gìn giữ, trao truyền qua các thế hệ. Giữa nhịp sống hiện đại, người Bố Y ở Mường Khương đang từng bước dựng xây cuộc sống ấm no, đồng thời lưu giữ và phát huy niềm tự hào nguồn cội. Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh Lào Cai trân trọng giới thiệu loạt bài (2 kỳ) “Bản làng hạnh phúc của người Bố Y”.

Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y: Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Ở Thính Chéng, xã Mường Khương khi nhắc đến văn hóa của dân tộc Bố Y, người ta thường tìm đến bà Lồ Lài Sửu. Ngoài 60 tuổi, bà vẫn miệt mài sưu tầm, ghi nhớ những làn điệu dân ca, phong tục, nghi lễ của dân tộc mình. Mỗi lần nói về người Bố Y, về giá trị văn hóa đã theo mình suốt cuộc đời, bà Sửu vẫn rưng rưng xúc động. 

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Xác định tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ quan trọng, thể hiện trách nhiệm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỉnh Lào Cai đã huy động cả hệ thống chính trị cùng chung tay tìm kiếm, đưa các chiến sĩ cách mạng còn nằm lại nơi chiến trường trở về với gia đình, quê hương.

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Xã Tằng Loỏng là địa bàn đông dân cư, tập trung Khu công nghiệp luyện kim, hóa chất trọng điểm của quốc gia và tỉnh, với nhiều doanh nghiệp, nhà máy đang hoạt động. Thế nhưng, giữa nhịp phát triển công nghiệp sôi động, người dân và công nhân lao động vẫn phải mua bán trong một khu chợ tạm hình thành từ nhiều năm trước. Sự thiếu hụt hạ tầng thương mại đang trở thành nghịch lý cần được giải quyết.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

fb yt zl tw