Tỉ lệ bồi thường quá thấp, có nên bắt buộc mua bảo hiểm xe máy?

Với các loại hình bảo hiểm khác, thông thường số tiền chi trả bảo hiểm chiếm khoảng 70% tổng thu. Tuy nhiên, tỷ lệ bồi thường của bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự hiện chỉ khoảng 4%, con số này cho thấy chính sách gần như không phát huy tác dụng.

Tỷ lệ bồi thường chỉ khoảng 4%

Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) vừa công bố số liệu cập nhật theo báo cáo nghiệp vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự. Theo đó, trong 11 tháng của năm 2024, tổng doanh thu là 736,9 tỷ đồng; ước tính chi phí bồi thường là 28,5 tỷ đồng; tỷ lệ bồi thường chỉ khoảng 4%.

Bảo hiểm xe máy bắt buộc thu hơn 730 tỷ, bồi thường chỉ 28,5 tỷ đồng.

Bảo hiểm xe máy bắt buộc thu hơn 730 tỷ, bồi thường chỉ 28,5 tỷ đồng.

Số liệu Bộ Tài chính công bố trước đó cho thấy: 6 tháng đầu năm 2024, doanh thu phí bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ mô tô, xe gắn máy đạt hơn 431,78 tỷ đồng, chi bồi thường là 41,9 tỷ đồng, dự phòng bồi thường là 35,86 tỷ đồng. Các khoản chi trên chưa tính chi hoa hồng, chi quản lý, chi bán hàng... cũng như trách nhiệm bồi thường phát sinh.

Theo Bộ Tài chính, với mức phí bảo hiểm 55.000 đồng hoặc 60.000 đồng, khi không may gây tai nạn đối với người thứ ba về sức khỏe, tính mạng, bảo hiểm sẽ chi trả cho người thứ ba tối đa 150 triệu đồng/người/vụ tai nạn; về tài sản sẽ được bảo hiểm chi trả tối đa 50 triệu đồng/vụ tai nạn.

"Nghị định số 67/2023/NĐ-CP của Chính phủ đã kế thừa và bổ sung nhiều quy định mới nhằm đơn giản thủ tục bồi thường, đảm bảo quyền lợi của người mua bảo hiểm", Bộ Tài chính cho hay.

Cần cân nhắc về tính hiệu quả

Trao đổi với một số báo chí về vấn đề này, ông Nguyễn Ngọc Tú, chuyên gia tài chính cho biết, với các loại hình bảo hiểm khác, thông thường số tiền chi trả bảo hiểm chiếm khoảng 70% tổng thu. Tỷ lệ bồi thường của bảo hiểm xe máy hiện nay là quá thấp, gần như chính sách không phát huy tác dụng.

"Nhiều năm qua, bảo hiểm xe máy là dạng bảo hiểm bắt buộc, người dân vẫn đóng nhưng khi xảy ra va chạm, hầu như người dân tự giải quyết với nhau. Bởi thủ tục hưởng bồi thường bảo hiểm tương đối phức tạp, tốn thời gian, nhưng mức bồi thường bảo hiểm có khi chỉ vài trăm nghìn đồng", ông Tú nói.

Cũng theo ông Tú, số tiền chi ra để mua bảo hiểm xe máy không lớn nhưng với hàng chục triệu xe máy, số tiền cả nước thu về rất lớn. Do đó, nên bỏ bảo hiểm xe máy bắt buộc để giảm phiền hà cho người dân, ai thấy cần thiết thì mua.

Nhiều ý kiến đề nghị bỏ quy định bắt buộc phải mua bảo hiểm xe máy.

Nhiều ý kiến đề nghị bỏ quy định bắt buộc phải mua bảo hiểm xe máy.

"Trong trường hợp vẫn bắt buộc mua bảo hiểm xe máy, Bộ Tài chính phải có giải pháp cải cách thủ tục hành chính trong khâu ghi nhận và bồi thường bảo hiểm", ông Nguyễn Ngọc Tú nhấn mạnh.

Thời gian qua, cử tri nhiều địa phương như An Giang, Đồng Nai, TP.HCM… cũng gửi tới Bộ Tài chính đề nghị xem xét, điều chỉnh quy định về mua bảo hiểm đối với xe máy theo hướng tự nguyện khi người dân có nhu cầu thay cho bắt buộc hiện nay. Lý do đưa ra là khi có sự kiện bảo hiểm phát sinh, người dân gặp nhiều khó khăn trong thực hiện các thủ tục bảo hiểm.

Luật sư Trương Thanh Đức.

Luật sư Trương Thanh Đức.

Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI phân tích, xét về bản chất, bảo hiểm xe máy có vai trò rất quan trọng, cần thiết trong bối cảnh Việt Nam có quá nhiều vụ tai nạn xe máy, và không ít người đi xe máy gây tai nạn không đủ tiền đền bù cho nạn nhân. Khoản tiền bảo hiểm sẽ góp phần đảm bảo an sinh cho người bị nạn. Nhìn nhận ở góc độ này, nên bắt buộc mua bảo hiểm xe máy.

Tuy nhiên, trên thực tế, người dân phản ứng khá tiêu cực với việc bắt buộc mua bảo hiểm xe máy bởi quan ngại về chuyện tới lúc gặp rủi ro lại khó nhận bồi thường vì thủ tục phức tạp, doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra nhiều quy định kiểu “bắt bí” để có cớ “phủi tay”.

Chẳng hạn, theo quy định pháp luật, khi tai nạn xảy ra, người được bảo hiểm phải có trách nhiệm thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm vào đường dây nóng; không được di chuyển, tháo gỡ hoặc sửa chữa tài sản khi chưa có ý kiến chấp thuận của doanh nghiệp bảo hiểm, trừ trường hợp cần thiết để đảm bảo an toàn, đề phòng hạn chế thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản hoặc phải thi hành theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, không ít trường hợp tai nạn, vì quá hoảng, không nhớ ra những việc phải làm ngay, dẫn đến không đáp ứng điều kiện để được thanh toán bồi thường, đành ngậm ngùi chịu mất quyền lợi.

“Nếu thực trạng này không được cải thiện, có thể bỏ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự với xe máy”, luật sư Trương Thanh Đức nói.

Trước đó, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá về tổng lợi ích cho xã hội, bảo hiểm bắt buộc với xe máy không bảo đảm nguyên tắc lợi ích lớn hơn chi phí.

VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc thu hẹp phạm vi chủ thể có nghĩa vụ bắt buộc mua bảo hiểm trách nhiệm xe cơ giới, theo hướng loại trừ trường hợp xe máy. Theo đó, việc mua bảo hiểm xe máy, bao gồm cả bảo hiểm trách nhiệm dân sự và các loại bảo hiểm khác, sẽ dựa trên sự tự nguyện thoả thuận của các bên.

Điều này không chỉ giúp giảm chi phí xã hội mà còn giúp các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm có động lực thiết kế và cung cấp những sản phẩm bảo hiểm tốt hơn, phù hợp với nhu cầu của khách hàng và mang lại lợi ích thực sự cho xã hội.

VCCI lập luận, bảo hiểm bắt buộc là sự can thiệp bằng quyền lực hành chính của Nhà nước vào quyền tự do thoả thuận của người dân và doanh nghiệp, một trong những quyền dân sự được bảo vệ.

Điều 14.2 của Hiến pháp và Điều 2.2 của Bộ luật Dân sự quy định rằng quyền này chỉ có thể bị hạn chế trong trường hợp cần thiết "vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng”. Như vậy, để hạn chế quyền này, cơ quan nhà nước phải chứng minh được rằng lợi ích công cộng thu được từ việc hạn chế quyền vượt xa chi phí phải bỏ ra.

Theo khảo sát của VCCI, trong thời gian qua, việc thực hiện các loại bảo hiểm bắt buộc đã được chứng minh là mang lại nhiều lợi ích xã hội nhưng với bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe máy thì không.

VOV

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bảo Ái phát huy “ba trụ cột” thúc đẩy kinh tế nông thôn

Bảo Ái phát huy “ba trụ cột” thúc đẩy kinh tế nông thôn

Sau sáp nhập, xã Bảo Ái đang từng bước khai thác hiệu quả lợi thế đất đai, rừng và mặt nước để cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng bền vững. Việc phát huy đồng thời "ba trụ cột" gồm: nông nghiệp hàng hóa, lâm nghiệp kinh tế và thủy sản không chỉ mở ra hướng đi phù hợp mà còn tạo động lực nâng cao thu nhập cho người dân.

Lào Cai: Hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp Trấn Yên cơ bản hoàn thành

Lào Cai: Hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp Trấn Yên cơ bản hoàn thành

Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Trấn Yên (giai đoạn 1) đang đạt những kết quả tích cực, với hạ tầng kỹ thuật cơ bản hoàn thành và công tác giải phóng mặt bằng đạt tiến độ đề ra. Đó là thông tin được thông báo tại Hội nghị đánh giá tiến độ thực hiện Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Trấn Yên, giai đoạn 1 do UBND xã Âu Lâu tổ chức chiều 05/5.

Lào Cai phấn đấu đến năm 2030, tổng giá trị ngành hàng dược liệu sau chế biến đạt trên 2.000 tỷ đồng

Lào Cai phấn đấu đến năm 2030, tổng giá trị ngành hàng dược liệu sau chế biến đạt trên 2.000 tỷ đồng

Đảng ủy UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Kế hoạch số 64 về việc phát triển dược liệu chiến lược tỉnh Lào Cai giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2050 nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TU ngày 03/02/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển dược liệu chiến lược tỉnh Lào Cai.

Khởi nghiệp từ lợi thế bản địa ở Lâm Thượng

Khởi nghiệp từ lợi thế bản địa ở Lâm Thượng

Phát huy lợi thế nông nghiệp đặc sản, cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa của 18 dân tộc cùng chung sống, xã Lâm Thượng đang từng bước khơi dậy phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Từ chính tiềm năng bản địa, nhiều mô hình kinh tế mới đã hình thành, mở hướng nâng cao thu nhập, tạo sinh kế bền vững và lan tỏa tinh thần dám nghĩ, dám làm ở xã vùng cao còn nhiều khó khăn.

Tăng cường nuôi dưỡng nguồn thu nội địa, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững

Tăng cường nuôi dưỡng nguồn thu nội địa, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững

Ngay từ đầu năm 2026, ngành Thuế tỉnh Lào Cai đã phát huy vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước, chủ động bám sát diễn biến kinh tế, linh hoạt trong điều hành và kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương. Tuy nhiên, những biến động của thị trường, chi phí đầu vào tăng và sức cầu chưa phục hồi hoàn toàn vẫn tác động đến hoạt động sản xuất - kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách trên địa bàn.

Lào Cai trong nhóm 16 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước

Lào Cai trong nhóm 16 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước

Theo Bộ Tài chính, tính đến ngày 30/4, giải ngân vốn đầu tư công là 144.282,9 tỷ đồng, đạt 14,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; trong đó, có 27 bộ, cơ quan trung ương, 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp, dưới bình quân chung cả nước. Lào Cai trong nhóm 8 bộ, cơ quan và 16 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước.

Giữ rừng giáp ranh: Chủ động “phòng” để hạn chế “chống”

Giữ rừng giáp ranh: Chủ động “phòng” để hạn chế “chống”

Khi đồng bào vùng cao bước vào cao điểm sản xuất, những cánh rừng đầu nguồn cũng đứng trước áp lực gia tăng rõ rệt cả từ tự nhiên lẫn con người. Ở các khu vực giáp ranh, nơi địa hình chia cắt, ranh giới hành chính đan xen, nguy cơ xâm hại rừng không chỉ đến từ một phía mà thường là hệ quả cộng hưởng của tập quán canh tác, nhu cầu sinh kế và những “khoảng trống” trong quản lý.

Tháo gỡ nút thắt, đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn điện trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Tháo gỡ nút thắt, đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn điện trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Chiều 04/5, tại trụ sở UBND tỉnh, đồng chí Nguyễn Tuấn Anh - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì hội nghị đánh giá tình hình triển khai các dự án nguồn điện theo Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII và Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lào Cai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thu “trái ngọt” từ cần cù lao động

Thu “trái ngọt” từ cần cù lao động

Từ chỗ sản xuất phụ thuộc nhiều vào cây lúa truyền thống, bà Hoàng Thị Inh - tổ dân phố Năm Hăn Thượng, phường Trung Tâm đã mạnh dạn chuyển đổi đất lúa sang trồng dưa hấu và thu “trái ngọt” từ chăm chỉ, cần cù lao động trên ruộng đồng.

Lùng Húi thoát nghèo từ chuyển đổi cây trồng

Lùng Húi thoát nghèo từ chuyển đổi cây trồng

Từ một thôn vùng cao còn nhiều khó khăn của xã Mường Khương, thôn Lùng Húi đang từng bước thay đổi diện mạo nhờ chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng hàng hóa. Chè và ớt - những cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đang mở ra hướng phát triển mới, góp phần nâng cao thu nhập, hướng tới giảm nghèo bền vững cho người dân.

Gần dân, sát việc, củng cố niềm tin

Gần dân, sát việc, củng cố niềm tin

Với phương châm “gần dân, sát việc, vì dân phục vụ”, thời gian qua, xã Văn Chấn đã chủ động bám nắm địa bàn, kịp thời tháo gỡ khó khăn, đưa các nghị quyết vào cuộc sống bằng những giải pháp thiết thực. Qua đó, nhiều chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân được triển khai hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân.

Để sản phẩm OCOP thúc đẩy kinh tế nông thôn

Để sản phẩm OCOP thúc đẩy kinh tế nông thôn

Sau gần 10 năm triển khai Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP), Lào Cai đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, phía sau sự tăng cao về số lượng sản phẩm thì vấn đề đang đặt ra là làm thế nào để sản phẩm OCOP mang lại hiệu quả kinh tế thực thụ và giá trị bền vững cho người nông dân, thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.

fb yt zl tw