Rút ngắn khoảng cách
Trong những năm vừa qua, Lào Cai đã có những cơ chế chính sách cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh như đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử; công khai thông tin quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhanh chóng, thuận tiện tìm kiếm thông tin cũng như tiếp cận chính sách, kế hoạch phát triển của tỉnh.
Đại diện chị em phụ nữ giao lưu trao đổi tại buổi Tọa đàm – Gặp mặt Phụ nữ tiêu biểu làm kinh tế giói năm 2023
Tổ chức đối thoại định kỳ hàng tháng giữa cơ quan nhà nước với các doanh nghiệp nhằm hướng dẫn, giải đáp cơ chế, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp; xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp. Tỉnh đã chủ động trong kêu gọi các nhà đầu tư nhằm thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, đã thu hút được nhiều tập đoàn kinh tế lớn trong nước, với tổng mức đầu tư hơn 200 nghìn tỷ đồng, điển hình như: Sungroup, Bitexco, Geleximco, Tổng công ty khoáng sản Vimico... đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế trọng yếu của tỉnh. Cùng với đó, số lượng doanh nghiệp doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh. Tính đến hết năm 2023 trên địa bàn tỉnh Lào Cai có gần 3.000 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh và 274 hợp tác xã; trong đó, có 1.391 doanh nghiệp và 33 HTX do nữ làm chủ; thu hút trên 71.000 lao động; qua đó, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh và lao động tại các tỉnh khác, trong đó có lao động nữ.
Đặc biệt, nhằm đẩy mạnh việc rút ngắn khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động và việc làm; tăng cường tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, miền núi và phụ nữ dân tộc thiểu số; các cấp ủy, chính quyền, sở, ngành, đoàn thể trong tỉnh đã triển khai nhiều nội dung, chương trình, đề án nâng cao trình độ, kỹ năng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động. Trong đó, phải kể đến Nghị quyết về Chương trình việc làm giai đoạn 2016-2020, 2021-2025 với các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, trong đó đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp như tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm thông qua Dự án vay vốn tự tạo việc làm cho 1.500 lao động/năm; hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, bình quân mỗi năm đưa từ 200 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Bên cạnh dó triển khai thực hiện các Chương trình quốc gia Giảm nghèo bền vững, Nông thôn mới... góp phần tăng cơ hội việc làm cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng.
Việc hình thành các kênh giao dịch trên thị trường lao động của tỉnh để tăng cơ hội việc làm cho nữ lao động được quan tâm thực hiện. Giai đoạn 2017- 2022, đã tổ chức trên 341 phiên giao dịch; tư vấn, giới thiệu việc tạo việc làm mới cho hơn 20.600 lượt lao động, trong đó nữ chiếm khoảng 48%. Phát triển hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp định hướng thị trường, hiện đại hoá, chuẩn hoá, xã hội hoá và hội nhập khu vực, quốc tế. Giai đoạn 2011 - 2022, từ các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động dạy nghề của các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp, ... toàn tỉnh đã đào tạo nghề cho lao động nông thôn đạt trên 130.000 người (trong đó, tỷ lệ lao động nông thôn là nữ được đào tạo nghề chiếm khoảng 42%); qua đó, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của tỉnh từ 30,8% năm 2011 lên 66,7% vào năm 2022.
Theo thống kê của Sở Lao động – TBXH tỉnh, tính đến hết năm 2022, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trên địa bàn tỉnh là trên 467 nghìn người; trong đó số lao động nữ là trên 225 nghìn người, bằng 47,91%. Tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo 15,71%, tỷ lệ lao động nữ đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo đạt 14,16%. Một số ngành có tỷ lệ nữ cao, đó là ngành giáo dục chiếm 73%, ngành y tế chiếm 64,4%, ngành ngân hàng chiếm 60%; đồng thời trong các hoạt động nông nghiệp, kinh doanh dịch vụ, thương mại, du lịch, … tỷ lệ nữ lao động luôn chiếm 70%.
Theo Phó giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nguyễn Thị Thu, nhằm tăng cơ hội cho phụ nữ phát triển kinh tế gia đình, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh đã chủ động phối hợp với chính quyền các địa phương, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh đẩy mạnh hoạt động tín dụng chính sách. Theo đó, tổng doanh số cho vay giai đoạn 2011 - 2020 tại hệ thống Ngân hàng chính sách xã hội: đạt trên 6.700 triệu đồng, với trên 250 nghìn lượt khách cho vay vốn, bình quân đạt hơn 730 triệu đồng/năm. Trong đó số vay vốn do phụ nữ làm chủ chiếm 60%, tạo công ăn việc làm cho trên 70 nghìn lao động chủ yếu tại nông thôn có vốn để sản xuất kinh doanh, giảm nghèo bền vững.
Thực hiện Đề án 295 “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, giới thiệu việc làm”, tỷ lệ nữ tham gia học nghề đều đạt và vượt chỉ tiêu 40% trên tổng số tuyển sinh, tỷ lệ có việc làm sau học nghề đạt trên 75%. Tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh là 1,24%; thất nghiệp chia theo giới tính nam là 1,36%, nữ là 1,09%.
Bên cạnh đó, Hội Nông dân các cấp trong tỉnh đã tổ chức tuyên truyền, vận động hội viên xây dựng mô hình kinh tế trang trại, kinh tế tập thể, hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa, áp dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, kinh doanh đem lại hiệu quả kinh tế cao. Theo số liệu thống kê của Hội nông dân tỉnh, tính đến hết năm 2022 dư nợ Quỹ hỗ trợ nông dân toàn tỉnh đạt 32,84 tỷ đồng thực hiện 50 dự án cho 552 hộ vay, tại 9/9 huyện, thị xã, thành phố. Trong đó, dự án trồng trọt chiếm 34,9%, chăn nuôi chiếm 51,2%, thủy sản chiếm 32,6%. Các dự án được hỗ trợ từ nguồn vốn Quỹ HTND đã xây dựng được các mô hình sản xuất tốt, có chiều hướng phát triển mở rộng, thành lập các chi, tổ Hội nông dân nghề nghiệp, Tổ hợp tác sản xuất, kinh doanh. Nhiều dự án phát huy tốt hiệu quả và được địa phương quan tâm nhân rộng như dự án: Nuôi gà thả đồi tại huyện Bảo Thắng; vịt bầu tại xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên; các dự án đầu tư chăn nuôi thủy sản tại huyện Bảo Thắng, Bát Xát; dự án chăn nuôi đại gia súc tại các huyện Văn Bàn, Bảo Yên, Bảo Thắng, Bát Xát đã phát huy được lợi thế nguồn thức ăn cho gia súc phong phú, phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu nên đàn gia súc phát triển rất tốt, đem lại giá trị kinh tế cao có sức lan tỏa mạnh mẽ trong toàn tỉnh. Thực hiện hiệu quả các dự án Quỹ Hỗ trợ nông dân tạo việc làm, thu nhập ổn định cho trên 500 lao động ở nông thôn, nâng cao thu nhập bình quân mỗi hộ từ 25-40 triệu đồng/năm để hỗ trợ phụ nữ thoát nghèo, vươn lên làm giàu.
Hơn nữa, phụ nữ các dân tộc tỉnh Lào Cai luôn có nhiều mô hình, cách làm hay, hoạt động hiệu quả được nhân rộng như: phong trào khuyến học, khuyến tài thông qua mô hình “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” được đẩy mạnh, xã hội hóa giáo dục ngày càng phát triển; tiêu biểu là cô giáo Vàng Thị Gếnh, Trường mầm non xã Mản Thẩn (Si Ma Cai) tự nguyện dạy chữ cho chị em phụ nữ và nhiều tấm gương nữ giáo viên từng ngày từng giờ hết mình vì học sinh thân yêu. Trong phong trào “Khỏe để xây dựng gia đình hạnh phúc” đã hình thành ý thức tự giác luyện tập thể thao trong chị em phụ nữ; nữ cán bộ ngành y tế tích cực thực hiện lời dạy của Bác “Lương y như từ mẫu”. Đồng thời, phụ nữ Lào Cai đã nỗ lực phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong các nhà máy, xí nghiệp, công trường, khơi dậy các ngành nghề truyền thống. Tiêu biểu là nữ công nhân lao động Công ty TNHH một thành viên Apatit Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã đảm nhận trên 100 công trình, phần việc áp dụng sáng kiến với tổng giá trị làm lợi trên 3,5 tỷ đồng.
Phụ nữ Lào Cai không những mạnh dạn, tự tin, tự chủ trong phát triển kinh tế mà còn chăm lo xây dựng gia đình. Với nhiệm vụ đột phá “xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”; hội phụ nữ các cấp đã xây dựng tổ phụ nữ tự quản đường giao thông nông thôn. Từ năm 2011, đã ra mắt 13 câu lạc bộ “nhà sạch, vườn đẹp” trên 9 huyện, thành phố; đến hết năm 2022, toàn tỉnh đã có trên 700 câu lạc bộ theo mô hình này. Đặc biệt, với các câu lạc bộ “Xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Cha mẹ nuôi dạy con tốt” đã thu hút nhiều thành viên tham gia và được tiếp cận kiến thức và kỹ năng quan trọng trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, dạy con kỹ năng sống, hướng nghiệp cho con, chia sẻ trách nhiệm cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc…
Ban Tổ chức tặng hoa chúc mừng chị em phụ nữ tại buổi Tọa đàm – Gặp mặt Phụ nữ tiêu biểu làm kinh tế giói năm 2023.
Tiếp tục phát huy hiệu quả
Có thể nói rằng, với việc quan tâm, xây dựng, hoàn thiện và giám sát thực hiện luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ và với nhiều cách thức triển khai thực hiện hiệu quả, nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được chuyển biến tích cực và nâng lên rõ rệt. Vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động và việc làm trên địa bàn tỉnh ngày càng được khẳng định; đời sống vật chất, tinh thần của chị em ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy dù đã từng bước khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; song phụ nữ vẫn đối mặt những rào cản, thách thức đến từ đặc điểm giới cũng như vẫn gặp nhiều trở ngại, hạn chế trên con đường phấn đấu. Do đó, rất cần cổ vũ phụ nữ cố gắng vươn lên, nỗ lực hoàn thiện bản thân, dám nói lên quan điểm của mình và nắm giữ các vị trí lãnh đạo, có như vậy mới đảm bảo vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới bền vững.
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác bình đẳng giới trong công tác phụ nữ nói chung và trong lĩnh vự kinh tế, lao động, việc làm rói riêng; thời gian tới rất cần sự vào cuộc và chung tay của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Trong đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đóng vai trò nòng cốt. Theo đó, các cấp các ngành trong tỉnh cũng như Hội phụ nữ các cấp cần tập trung triển khai thực hiện chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025; chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025; Dự án thành phần số 8 “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em” giai đoạn 2021- 2025” góp phần thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia.gia “Phát triển kỉnh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2021 -2030”
Thực hiện đổi mới, đa dạng hóa các hình thức truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân nói chung và hội viên, phụ nữ nói riêng về bình đẳng giới, đặc biệt tập trung vào đối tuợng phụ nữ nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Xây dựng, triển khai các hoạt động truyền thông, các mô hình về bình đẳng giới phù hợp với thực tế.
Tiếp tục tham mưu thực hiện về công tác quy hoạch, đào tào, sử dụng đội ngũ cán bộ nữ và phát triển đảng viên nữ, đặc biệt là đảng viên nữ nông thôn; thực hiện có hiệu quả Đề án “Bồi duỡng cán bộ, công chức Hội liên hiệp phụ nữ các cấp và chi hội truởng giai đoạn 2019-2025”; nhằm tạo nguồn trong công tác cán bộ nữ.
Làm tốt công tác tham mưu, đề xuất có hiệu quả công tác lồng ghép giới trong xây dụng, triển khai các chính sách, pháp luật, chuơng trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. trong đó, tập trung vào chính sách chăm lo, bảo vệ bà mẹ, trẻ em, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của phụ nữ, nhất là phụ nữ vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đồng thời, thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội; kịp thời phối họp phát hiện, ngăn chặn và giải quyết những vụ việc và các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ, trẻ em.
Tuy nhiên, thực tế cho thầy dù đã từng bước khẳng định được vai trò, vị trí của mình song rất cần sự chung tay cổ vũ của xã hội để phụ nữ cố gắng vươn lên, nỗ lực hoàn thiện bản thân, dám nói lên quan điểm của mình và nắm giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý trong các lĩnh vực; có như vậy mới đảm bảo vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới bền vững.