Thúc đẩy sản xuất theo hướng hữu cơ vùng trung du và miền núi

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ là một trong những xu hướng nhằm phát triển nền nông nghiệp hiện đại. Hiện nay, sản xuất theo hướng này đã và đang được nhiều địa phương thực hiện. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không chỉ có mặt ở vùng đồng bằng còn xuất hiện ở những địa bàn miền núi, nơi đồng bào dân tộc sinh sống. Việc sản xuất theo hướng này giúp nâng cao chất lượng, bảo đảm sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng, gia tăng giá trị sản xuất.

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ là một trong những xu hướng nhằm phát triển nền nông nghiệp hiện đại. Hiện nay, sản xuất theo hướng này đã và đang được nhiều địa phương thực hiện. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không chỉ có mặt ở vùng đồng bằng còn xuất hiện ở những địa bàn miền núi, nơi đồng bào dân tộc sinh sống. Việc sản xuất theo hướng này giúp nâng cao chất lượng, bảo đảm sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng, gia tăng giá trị sản xuất.

Trồng lúa theo hướng hữu cơ, tuần hoàn.

Trồng lúa theo hướng hữu cơ, tuần hoàn.

Nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng diện tích đất trồng trọt bị thu hẹp dần do bùng nổ dân số, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và chất lượng đất đang bị suy thoái. Vì vậy, việc thay đổi nhận thức của bà con nông dân từ sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật nhiều sang sản xuất theo hướng hữu cơ là cần thiết.

Diện tích sản xuất hữu cơ ngày càng tăng

Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường cho biết, nếu như năm 2018 trên địa bàn cả nước có 46 địa phương tham gia sản xuất nông nghiệp hữu cơ hoặc đang chuyển đổi sang canh tác hữu cơ thì đến năm 2023 đã có 63 địa phương thực hiện.

Theo báo cáo của 38 địa phương, đến năm 2023 tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ là 75.020ha (trong đó 82% là đất trồng trọt). Đồng thời đã có 38.780ha sản xuất nông nghiệp hữu cơ được chứng nhận tiêu chuẩn Việt Nam hoặc theo tiêu chuẩn của EU, Mỹ, Nhật. Đến nay, các địa phương đang chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ đối với 260.725ha đất trồng trọt.

Điều đáng nói, sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ hiện nay không chỉ phát triển ở những địa phương có nền nông nghiệp phát triển. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ cũng đã được triển khai thực hiện ở những vùng có điều kiện sản xuất khó khăn như trung du và miền núi phía bắc, trong đó có những mô hình được thực hiện ở vùng sâu, xa, đồng bào dân tộc.

Theo báo cáo của 38 địa phương, đến năm 2023 tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ là 75.020ha (trong đó 82% là đất trồng trọt). Đồng thời đã có 38.780ha sản xuất nông nghiệp hữu cơ được chứng nhận tiêu chuẩn Việt Nam hoặc theo tiêu chuẩn của EU, Mỹ, Nhật.

Theo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, trung du và miền núi phía bắc được xem là vùng có nhiều tiềm năng, lợi thế cho phát triển nông nghiệp hữu cơ bởi sự phong phú về tài nguyên đất, nước, khí hậu. Người dân ngày càng có nhiều kinh nghiệm, nhận thức và nhu cầu sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

Bên cạnh đó, các địa phương có những chính sách hỗ trợ và định hướng phát triển nền nông nghiệp tích hợp đa giá trị và thân thiện môi trường nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và phát triển nông nghiệp bền vững.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang Lê Bá Thành cho biết: “Bước đầu trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi có sự tham gia của các doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi liên kết giá trị. Đến nay, toàn tỉnh đã hỗ trợ xây dựng sáu mô hình điểm, chứng nhận nông nghiệp hữu cơ như: Mô hình sản xuất rau hữu cơ, quy mô một ha tại huyện Việt Yên; mô hình bưởi hữu cơ, quy mô một ha tại huyện Lục Ngạn; mô hình sản xuất chè hữu cơ, quy mô một ha tại huyện Yên Thế; mô hình lợn hữu cơ, quy mô 300 con tại hai huyện Lục Nam và Việt Yên; mô hình gà hữu cơ, quy mô 3.000 con tại huyện Yên Thế”.

Tăng giá trị sản xuất

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không chỉ giúp nền nông nghiệp phát triển bền vững và an toàn hơn đối với sức khỏe con người mà còn thân thiện với môi trường.

Mặt khác, sản xuất hữu cơ cũng góp phần tạo ra những sản phẩm nông sản có chất lượng, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu và gia tăng giá trị sản xuất.

Đến nay, toàn tỉnh Bắc Giang đã hỗ trợ xây dựng sáu mô hình điểm, chứng nhận nông nghiệp hữu cơ như: mô hình sản xuất rau hữu cơ, quy mô một ha tại huyện Việt Yên; mô hình bưởi hữu cơ, quy mô một ha tại huyện Lục Ngạn; mô hình sản xuất chè hữu cơ, quy mô một ha tại huyện Yên Thế...

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang Lê Bá Thành

Trên thực tế, trên địa bàn các địa phương vùng trung du và miền núi phía bắc hiện nay đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ mang lại hiệu quả cao.

Theo Cục Trồng trọt, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ với mô hình sản xuất bưởi hữu cơ tại xã Vân Đồn, huyện Đoan Hùng và xã Vân Phú, thành phố Việt Trì với diện tích 3ha. Mô hình áp dụng các biện pháp chăm sóc theo tiêu chuẩn hữu cơ giúp cân bằng hệ sinh thái vườn bưởi, cây trồng sinh trưởng phát triển khỏe, bền vững, an toàn với người sản xuất và môi trường chung quanh. Sản lượng đạt 32 tấn/năm, doanh thu trung bình đạt 460 triệu đồng/năm.

Trồng thanh long theo hướng hữu cơ.
Trồng thanh long theo hướng hữu cơ.

Hay tại tỉnh Lạng Sơn với mô hình sản xuất theo quy trình chứng nhận hữu cơ đối với sản phẩm hồi ở các huyện Văn Quan, Bình Gia, Chi Lăng, hiệu quả kinh tế đạt từ 100 đến 150 triệu đồng/ha; các mô hình sản xuất quýt ở các huyện Tràng Định, Bình Gia, Bắc Sơn theo quy trình chứng nhận VietGAP, hữu cơ, hiệu quả đạt từ 100 đến 150 triệu đồng/ha.

Mô hình sản xuất chè theo quy trình canh tác hữu cơ ở các xã Xuân Lao, Ảng Tở, huyện Mường Ảng (Điện Biên) tại cơ sở sản xuất chè Phan Thanh Ngọt quy mô 17 ha, trong đó 5 ha chứng nhận hữu cơ. Mô hình tạo việc làm từ 25 đến 30 lao động thời vụ với mức thu nhập từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/người/tháng.

Hiện nay, Hợp tác xã đang trồng khoảng 50ha với các sản phẩm từ măng Lục trúc như: Măng tươi, khô, ngâm ớt… Ngoài ra, Hợp tác xã cũng liên kết hơn 300 thành viên trong và ngoài tỉnh vừa cung cấp cây giống vừa trực tiếp hỗ trợ sản xuất vào bao tiêu sản phẩm.

Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Hợp tác xã Măng Lục trúc Lâm Sinh Ngọc Châu, huyện Tân Yên Dương Thị Luyện

Hay mô hình sản xuất, tiêu thụ rau hữu cơ tại xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn (Hòa Bình) quy mô 10 ha. Mỗi năm cho thu hoạch từ các sản phẩm nông sản như bưởi, rau các loại với sản lượng từ 100 đến 150 tấn; doanh thu một năm đạt khoảng 2 đến 3 tỷ đồng.

Tại huyện Tân Yên (Bắc Giang) thời gian gần đây đã và đang dần mở rộng xây dựng và phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ trên một số đối tượng cây trồng như: ổi, vải, vú sữa, măng… mang lại những tín hiệu tích cực.

Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc Hợp tác xã Măng Lục trúc Lâm Sinh Ngọc Châu, huyện Tân Yên Dương Thị Luyện chia sẻ: “Hợp tác xã được thành lập từ khao khát làm giàu trên chính mảnh đất quê hương, cũng như mong muốn tạo việc làm, giúp bà con nông dân thoát nghèo bằng chính sản phẩm đặc trưng của địa phương là măng Lục trúc. Do đặc thù cây măng không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sinh trưởng nên được người dân địa phương gìn giữ và phát triển theo quy trình sản xuất sạch, an toàn”.

Hiện nay, Hợp tác xã đang trồng khoảng 50ha với các sản phẩm từ măng Lục trúc như: măng tươi, khô, ngâm ớt… Ngoài ra, Hợp tác xã cũng liên kết hơn 300 thành viên trong và ngoài tỉnh vừa cung cấp cây giống vừa trực tiếp hỗ trợ sản xuất vào bao tiêu sản phẩm. Năm 2023, Hợp tác xã sản xuất được 150 tấn măng tươi, 1.500 hộp măng ngâm ớt, 30 nghìn cây giống; doanh thu khoảng 20 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho 50 lao động với mức lương bình quân 8.000.000 đồng/tháng…

Nhiều khó khăn khi mở rộng diện tích

Theo các cơ quan chức năng, mặc dù sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ đã và đang có nhiều tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, để mở rộng sản xuất hữu cơ cũng còn nhiều thách thức. Trong đó, thói quen của người dân về sử dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật hóa học vẫn phổ biến; sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn manh mún, diện tích còn khiêm tốn và không tập trung; các khu vực sản xuất hữu cơ phần lớn đang ở dạng mô hình cho nên diện tích nhỏ khiến chi phí đầu tư cao.

Đặc biệt, đối với vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp hữu cơ trung du và miền núi nhưng điều kiện địa hình nhiều khó khăn, chia cắt, đất có độ dốc lớn. Hơn nữa giao thông đến các vùng sản xuất còn hạn chế gây khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ so với sản phẩm sản xuất theo hướng truyền thống không có sự khác biệt nhiều, nhất là về giá bán. Trong khi đó, quy mô các mô hình còn nhỏ, khó cạnh tranh; nguyên liệu, vật tư đầu vào để sản xuất đạt tiêu chuẩn hữu cơ chưa đa dạng.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang Lê Bá Thành

Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn ít cả về số lượng và quy mô, mức độ đầu tư. Sự vào cuộc của các doanh nghiệp có khả năng liên kết sản xuất, tiêu thụ còn hạn chế; chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về chuỗi khép kín trong sản xuất, chế biến hữu cơ…

Sơ chế nấm hữu cơ tại Công ty TNHH Hà Lâm Phong, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
Sơ chế nấm hữu cơ tại Công ty TNHH Hà Lâm Phong, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

Trao đổi về vấn đề này, đại diện Cục Trồng trọt cho rằng, năng suất cây trồng, vật nuôi theo phương thức hữu cơ thấp hơn so với sản xuất an toàn, do không dùng phân bón hóa học, hormone tăng trưởng, công nghệ gien...; sản xuất hữu cơ tốn nhiều công lao động hơn; chi phí sản xuất lớn dẫn tới giá thành sản phẩm nông nghiệp hữu cơ cao nên ảnh hưởng đến việc mở rộng diện tích.

Bên cạnh đó, hiện nay chính sách cho sản xuất hữu cơ đã có nhưng mới chỉ tập trung cho sản xuất, chưa có chính sách cho các đối tượng khác tham gia trong chuỗi giá trị như: Chính sách khuyến khích sản xuất các loại vật tư phục vụ sản xuất hữu cơ, chính sách khuyến khích người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm xanh.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang Lê Bá Thành cho rằng, sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn tại Bắc Giang còn gặp những khó khăn như: thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ so với sản phẩm sản xuất theo hướng truyền thống không có sự khác biệt nhiều, nhất là về giá bán. Trong khi đó, quy mô các mô hình còn nhỏ, khó cạnh tranh; nguyên liệu, vật tư đầu vào để sản xuất đạt tiêu chuẩn hữu cơ chưa đa dạng.

Quy hoạch vùng sản xuất tập trung

Theo Cục Trồng trọt, để phát triển và mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ, thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương cần có các chính sách hỗ trợ quy hoạch vùng sản xuất tập trung, xác định vùng canh tác hữu cơ, hỗ trợ xây dựng thương hiệu. Cung cấp các chính sách hỗ trợ tài chính như: vay vốn ưu đãi, hỗ trợ thuế, và phí giảm giá cho các nông dân chuyển đổi sang nông nghiệp tuần hoàn và hữu cơ; tiếp tục tư vấn cho người nông dân về các phương pháp và kỹ thuật sản xuất tuần hoàn và hữu cơ, nhất là bà con nông dân vùng sâu, xa, đồng bào dân tộc.

Còn theo GS, TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: “Thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương cần xúc tiến thương mại trong và ngoài nước cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ Việt Nam; liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ; tập trung phát triển sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đối với một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực như: lúa, chè, cà-phê, hồ tiêu, rau, quả…. phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Đặc biệt, các địa phương có thể xây dựng đề án về nông nghiệp hữu cơ để xác định đúng sản phẩm có lợi thế có thể phát triển thành sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Đồng thời, quy hoạch và xây dựng vùng thâm canh sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đủ lớn để có khối lượng hàng hóa có thương hiệu”.

Cùng với đó, cần hỗ trợ nghiên cứu và phát triển công nghệ mới để cải thiện hiệu suất sản xuất và giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ; đầu tư vào cơ sở hạ tầng vận chuyển và lưu trữ để hỗ trợ việc phân phối sản phẩm nông nghiệp hữu cơ từ nông trại đến thị trường…

Thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương cần xúc tiến thương mại trong và ngoài nước cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ Việt Nam; liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ; tập trung phát triển sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đối với một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực như: lúa, chè, cà-phê, hồ tiêu, rau, quả…. phục vụ nội tiêu và xuất khẩu.

GS, TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Đẩy nhanh việc hỗ trợ địa phương xác định các vùng bảo đảm điều kiện sản xuất hữu cơ, ưu tiên theo hướng phát triển tập trung, quy mô hàng hóa gắn với các sản phẩm lợi thế; tăng cường các hoạt động kết nối sản xuất, tiêu thụ và quảng bá sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Đặc biệt, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất, tiêu thụ nông sản, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và quảng bá sản phẩm nông nghiệp hữu cơ…

nhandan.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Hội Nông dân Văn Bàn đồng hành với nông hộ phát triển kinh tế

Hội Nông dân Văn Bàn đồng hành với nông hộ phát triển kinh tế

Với phương châm hướng mạnh về cơ sở, lấy nhu cầu và quyền lợi chính đáng của hội viên làm trung tâm, Hội Nông dân xã Văn Bàn đang triển khai nhiều hoạt động thiết thực, đồng hành với nông hộ trong chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, tiếp cận nguồn vốn, ứng dụng khoa học - kỹ thuật và từng bước hình thành các mô hình sản xuất hàng hóa.

Đón đợi tuyến đường mới lên thôn cao nhất Việt Nam

Đón đợi tuyến đường mới lên thôn cao nhất Việt Nam

Tuyến đường dài khoảng 4 km nối từ Tỉnh lộ 156 lên thôn Ngải Thầu Thượng cũ, nay là thôn Ngải Thầu, xã Y Tý - nơi cao nhất Việt Nam hiện xuống cấp nghiêm trọng. Hạ tầng yếu kém không chỉ khiến việc đi lại của người dân khó khăn, mà còn cản bước du khách đến với một trong những “thiên đường săn mây” ở xã Y Tý.

Tăng giá trị nguồn nguyên liệu nông - lâm sản địa phương

Tăng giá trị nguồn nguyên liệu nông - lâm sản địa phương

Từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, Công ty Cổ phần Lâm nông sản thực phẩm Yên Bái đang tạo ra việc làm, thu nhập cho người lao động, đầu ra cho nông sản, nguồn thu cho ngân sách và những đóng góp thiết thực cho cộng đồng. Hiệu quả sản xuất, kinh doanh vì thế trở thành nền tảng để doanh nghiệp đồng hành với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Trồng rừng đạt 94,6% kế hoạch năm

Trồng rừng đạt 94,6% kế hoạch năm

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh trồng mới được trên 13.240 ha rừng, đạt 94,6% kế hoạch năm. Các địa phương chú trọng chăm sóc diện tích rừng mới trồng, khoanh nuôi tái sinh và theo dõi, phòng trừ sâu bệnh hại.

“Tiếng gọi” giữa đại ngàn

“Tiếng gọi” giữa đại ngàn

Vườn Quốc gia Bát Xát sở hữu những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn với các quần thể cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Giữa đại ngàn, những dòng thác hùng vĩ ngày đêm tung bọt trắng xóa, tạo nên cảnh đẹp hoang sơ hấp dẫn . Đặc biệt, nơi đây còn là “ngôi nhà chung” của hệ động - thực vật phong phú, đa dạng, trong đó nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách Đỏ.

Lương Thịnh: Tạo nền tảng vững chắc để giảm nghèo bền vững

Lương Thịnh: Tạo nền tảng vững chắc để giảm nghèo bền vững

Không dừng lại ở những con số thống kê hay nỗ lực rút ngắn tỷ lệ hộ nghèo, xã Lương Thịnh đang tập trung giải bài toán căn cơ: giữ vững thành quả và ngăn ngừa nguy cơ tái nghèo. Bằng việc trao “cần câu” sinh kế kết hợp phát huy nội lực của người dân, địa phương từng bước tạo dựng nền tảng vững chắc cho lộ trình giảm nghèo thực chất, lâu dài.

Lào Cai chuẩn bị điều kiện tham gia thị trường tín chỉ carbon rừng

Lào Cai chuẩn bị điều kiện tham gia thị trường tín chỉ carbon rừng

Chiều 29/9, đồng chí Phan Trung Bá - Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp bàn về phát triển các dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon, giảm phát thải khí nhà kính và khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế từ rừng, qua đó chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tham gia thị trường tín chỉ carbon rừng của Lào Cai.

Phong Dụ Thượng chung tay giảm nghèo bền vững

Phong Dụ Thượng chung tay giảm nghèo bền vững

Chăm lo người nghèo, người yếu thế, bảo đảm để mọi người dân có cơ hội tiếp cận và thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội luôn được Đảng, Nhà nước và tỉnh Lào Cai quan tâm thực hiện. Ở Phong Dụ Thượng, chủ trương ấy đang được cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực, từ hỗ trợ nhà ở, sinh kế đến thay đổi nhận thức, tạo “điểm tựa” để người dân tự tin vươn lên.

Sản lượng chuối toàn tỉnh đạt hơn 41.600 tấn

Sản lượng chuối toàn tỉnh đạt hơn 41.600 tấn

Toàn tỉnh hiện có trên 3.500 ha chuối, đạt 99,5% kế hoạch năm, tập trung tại các địa phương có điều kiện phù hợp như Mường Khương, Bát Xát, Trịnh Tường, Bản Lầu, Bảo Hà, Bảo Thắng, Xuân Ái… Các giống chủ yếu gồm chuối tiêu, chuối ngự, chuối tây Thái...

fb yt zl tw