Thúc đẩy sản xuất theo hướng hữu cơ vùng trung du và miền núi

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ là một trong những xu hướng nhằm phát triển nền nông nghiệp hiện đại. Hiện nay, sản xuất theo hướng này đã và đang được nhiều địa phương thực hiện. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không chỉ có mặt ở vùng đồng bằng còn xuất hiện ở những địa bàn miền núi, nơi đồng bào dân tộc sinh sống. Việc sản xuất theo hướng này giúp nâng cao chất lượng, bảo đảm sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng, gia tăng giá trị sản xuất.

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ là một trong những xu hướng nhằm phát triển nền nông nghiệp hiện đại. Hiện nay, sản xuất theo hướng này đã và đang được nhiều địa phương thực hiện. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không chỉ có mặt ở vùng đồng bằng còn xuất hiện ở những địa bàn miền núi, nơi đồng bào dân tộc sinh sống. Việc sản xuất theo hướng này giúp nâng cao chất lượng, bảo đảm sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng, gia tăng giá trị sản xuất.

Trồng lúa theo hướng hữu cơ, tuần hoàn.

Trồng lúa theo hướng hữu cơ, tuần hoàn.

Nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng diện tích đất trồng trọt bị thu hẹp dần do bùng nổ dân số, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và chất lượng đất đang bị suy thoái. Vì vậy, việc thay đổi nhận thức của bà con nông dân từ sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật nhiều sang sản xuất theo hướng hữu cơ là cần thiết.

Diện tích sản xuất hữu cơ ngày càng tăng

Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường cho biết, nếu như năm 2018 trên địa bàn cả nước có 46 địa phương tham gia sản xuất nông nghiệp hữu cơ hoặc đang chuyển đổi sang canh tác hữu cơ thì đến năm 2023 đã có 63 địa phương thực hiện.

Theo báo cáo của 38 địa phương, đến năm 2023 tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ là 75.020ha (trong đó 82% là đất trồng trọt). Đồng thời đã có 38.780ha sản xuất nông nghiệp hữu cơ được chứng nhận tiêu chuẩn Việt Nam hoặc theo tiêu chuẩn của EU, Mỹ, Nhật. Đến nay, các địa phương đang chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ đối với 260.725ha đất trồng trọt.

Điều đáng nói, sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ hiện nay không chỉ phát triển ở những địa phương có nền nông nghiệp phát triển. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ cũng đã được triển khai thực hiện ở những vùng có điều kiện sản xuất khó khăn như trung du và miền núi phía bắc, trong đó có những mô hình được thực hiện ở vùng sâu, xa, đồng bào dân tộc.

Theo báo cáo của 38 địa phương, đến năm 2023 tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ là 75.020ha (trong đó 82% là đất trồng trọt). Đồng thời đã có 38.780ha sản xuất nông nghiệp hữu cơ được chứng nhận tiêu chuẩn Việt Nam hoặc theo tiêu chuẩn của EU, Mỹ, Nhật.

Theo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, trung du và miền núi phía bắc được xem là vùng có nhiều tiềm năng, lợi thế cho phát triển nông nghiệp hữu cơ bởi sự phong phú về tài nguyên đất, nước, khí hậu. Người dân ngày càng có nhiều kinh nghiệm, nhận thức và nhu cầu sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

Bên cạnh đó, các địa phương có những chính sách hỗ trợ và định hướng phát triển nền nông nghiệp tích hợp đa giá trị và thân thiện môi trường nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và phát triển nông nghiệp bền vững.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang Lê Bá Thành cho biết: “Bước đầu trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi có sự tham gia của các doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi liên kết giá trị. Đến nay, toàn tỉnh đã hỗ trợ xây dựng sáu mô hình điểm, chứng nhận nông nghiệp hữu cơ như: Mô hình sản xuất rau hữu cơ, quy mô một ha tại huyện Việt Yên; mô hình bưởi hữu cơ, quy mô một ha tại huyện Lục Ngạn; mô hình sản xuất chè hữu cơ, quy mô một ha tại huyện Yên Thế; mô hình lợn hữu cơ, quy mô 300 con tại hai huyện Lục Nam và Việt Yên; mô hình gà hữu cơ, quy mô 3.000 con tại huyện Yên Thế”.

Tăng giá trị sản xuất

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không chỉ giúp nền nông nghiệp phát triển bền vững và an toàn hơn đối với sức khỏe con người mà còn thân thiện với môi trường.

Mặt khác, sản xuất hữu cơ cũng góp phần tạo ra những sản phẩm nông sản có chất lượng, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu và gia tăng giá trị sản xuất.

Đến nay, toàn tỉnh Bắc Giang đã hỗ trợ xây dựng sáu mô hình điểm, chứng nhận nông nghiệp hữu cơ như: mô hình sản xuất rau hữu cơ, quy mô một ha tại huyện Việt Yên; mô hình bưởi hữu cơ, quy mô một ha tại huyện Lục Ngạn; mô hình sản xuất chè hữu cơ, quy mô một ha tại huyện Yên Thế...

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang Lê Bá Thành

Trên thực tế, trên địa bàn các địa phương vùng trung du và miền núi phía bắc hiện nay đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ mang lại hiệu quả cao.

Theo Cục Trồng trọt, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ với mô hình sản xuất bưởi hữu cơ tại xã Vân Đồn, huyện Đoan Hùng và xã Vân Phú, thành phố Việt Trì với diện tích 3ha. Mô hình áp dụng các biện pháp chăm sóc theo tiêu chuẩn hữu cơ giúp cân bằng hệ sinh thái vườn bưởi, cây trồng sinh trưởng phát triển khỏe, bền vững, an toàn với người sản xuất và môi trường chung quanh. Sản lượng đạt 32 tấn/năm, doanh thu trung bình đạt 460 triệu đồng/năm.

Trồng thanh long theo hướng hữu cơ.
Trồng thanh long theo hướng hữu cơ.

Hay tại tỉnh Lạng Sơn với mô hình sản xuất theo quy trình chứng nhận hữu cơ đối với sản phẩm hồi ở các huyện Văn Quan, Bình Gia, Chi Lăng, hiệu quả kinh tế đạt từ 100 đến 150 triệu đồng/ha; các mô hình sản xuất quýt ở các huyện Tràng Định, Bình Gia, Bắc Sơn theo quy trình chứng nhận VietGAP, hữu cơ, hiệu quả đạt từ 100 đến 150 triệu đồng/ha.

Mô hình sản xuất chè theo quy trình canh tác hữu cơ ở các xã Xuân Lao, Ảng Tở, huyện Mường Ảng (Điện Biên) tại cơ sở sản xuất chè Phan Thanh Ngọt quy mô 17 ha, trong đó 5 ha chứng nhận hữu cơ. Mô hình tạo việc làm từ 25 đến 30 lao động thời vụ với mức thu nhập từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/người/tháng.

Hiện nay, Hợp tác xã đang trồng khoảng 50ha với các sản phẩm từ măng Lục trúc như: Măng tươi, khô, ngâm ớt… Ngoài ra, Hợp tác xã cũng liên kết hơn 300 thành viên trong và ngoài tỉnh vừa cung cấp cây giống vừa trực tiếp hỗ trợ sản xuất vào bao tiêu sản phẩm.

Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Hợp tác xã Măng Lục trúc Lâm Sinh Ngọc Châu, huyện Tân Yên Dương Thị Luyện

Hay mô hình sản xuất, tiêu thụ rau hữu cơ tại xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn (Hòa Bình) quy mô 10 ha. Mỗi năm cho thu hoạch từ các sản phẩm nông sản như bưởi, rau các loại với sản lượng từ 100 đến 150 tấn; doanh thu một năm đạt khoảng 2 đến 3 tỷ đồng.

Tại huyện Tân Yên (Bắc Giang) thời gian gần đây đã và đang dần mở rộng xây dựng và phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ trên một số đối tượng cây trồng như: ổi, vải, vú sữa, măng… mang lại những tín hiệu tích cực.

Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc Hợp tác xã Măng Lục trúc Lâm Sinh Ngọc Châu, huyện Tân Yên Dương Thị Luyện chia sẻ: “Hợp tác xã được thành lập từ khao khát làm giàu trên chính mảnh đất quê hương, cũng như mong muốn tạo việc làm, giúp bà con nông dân thoát nghèo bằng chính sản phẩm đặc trưng của địa phương là măng Lục trúc. Do đặc thù cây măng không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sinh trưởng nên được người dân địa phương gìn giữ và phát triển theo quy trình sản xuất sạch, an toàn”.

Hiện nay, Hợp tác xã đang trồng khoảng 50ha với các sản phẩm từ măng Lục trúc như: măng tươi, khô, ngâm ớt… Ngoài ra, Hợp tác xã cũng liên kết hơn 300 thành viên trong và ngoài tỉnh vừa cung cấp cây giống vừa trực tiếp hỗ trợ sản xuất vào bao tiêu sản phẩm. Năm 2023, Hợp tác xã sản xuất được 150 tấn măng tươi, 1.500 hộp măng ngâm ớt, 30 nghìn cây giống; doanh thu khoảng 20 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho 50 lao động với mức lương bình quân 8.000.000 đồng/tháng…

Nhiều khó khăn khi mở rộng diện tích

Theo các cơ quan chức năng, mặc dù sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ đã và đang có nhiều tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, để mở rộng sản xuất hữu cơ cũng còn nhiều thách thức. Trong đó, thói quen của người dân về sử dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật hóa học vẫn phổ biến; sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn manh mún, diện tích còn khiêm tốn và không tập trung; các khu vực sản xuất hữu cơ phần lớn đang ở dạng mô hình cho nên diện tích nhỏ khiến chi phí đầu tư cao.

Đặc biệt, đối với vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp hữu cơ trung du và miền núi nhưng điều kiện địa hình nhiều khó khăn, chia cắt, đất có độ dốc lớn. Hơn nữa giao thông đến các vùng sản xuất còn hạn chế gây khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ so với sản phẩm sản xuất theo hướng truyền thống không có sự khác biệt nhiều, nhất là về giá bán. Trong khi đó, quy mô các mô hình còn nhỏ, khó cạnh tranh; nguyên liệu, vật tư đầu vào để sản xuất đạt tiêu chuẩn hữu cơ chưa đa dạng.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang Lê Bá Thành

Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn ít cả về số lượng và quy mô, mức độ đầu tư. Sự vào cuộc của các doanh nghiệp có khả năng liên kết sản xuất, tiêu thụ còn hạn chế; chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về chuỗi khép kín trong sản xuất, chế biến hữu cơ…

Sơ chế nấm hữu cơ tại Công ty TNHH Hà Lâm Phong, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
Sơ chế nấm hữu cơ tại Công ty TNHH Hà Lâm Phong, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

Trao đổi về vấn đề này, đại diện Cục Trồng trọt cho rằng, năng suất cây trồng, vật nuôi theo phương thức hữu cơ thấp hơn so với sản xuất an toàn, do không dùng phân bón hóa học, hormone tăng trưởng, công nghệ gien...; sản xuất hữu cơ tốn nhiều công lao động hơn; chi phí sản xuất lớn dẫn tới giá thành sản phẩm nông nghiệp hữu cơ cao nên ảnh hưởng đến việc mở rộng diện tích.

Bên cạnh đó, hiện nay chính sách cho sản xuất hữu cơ đã có nhưng mới chỉ tập trung cho sản xuất, chưa có chính sách cho các đối tượng khác tham gia trong chuỗi giá trị như: Chính sách khuyến khích sản xuất các loại vật tư phục vụ sản xuất hữu cơ, chính sách khuyến khích người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm xanh.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang Lê Bá Thành cho rằng, sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn tại Bắc Giang còn gặp những khó khăn như: thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ so với sản phẩm sản xuất theo hướng truyền thống không có sự khác biệt nhiều, nhất là về giá bán. Trong khi đó, quy mô các mô hình còn nhỏ, khó cạnh tranh; nguyên liệu, vật tư đầu vào để sản xuất đạt tiêu chuẩn hữu cơ chưa đa dạng.

Quy hoạch vùng sản xuất tập trung

Theo Cục Trồng trọt, để phát triển và mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ, thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương cần có các chính sách hỗ trợ quy hoạch vùng sản xuất tập trung, xác định vùng canh tác hữu cơ, hỗ trợ xây dựng thương hiệu. Cung cấp các chính sách hỗ trợ tài chính như: vay vốn ưu đãi, hỗ trợ thuế, và phí giảm giá cho các nông dân chuyển đổi sang nông nghiệp tuần hoàn và hữu cơ; tiếp tục tư vấn cho người nông dân về các phương pháp và kỹ thuật sản xuất tuần hoàn và hữu cơ, nhất là bà con nông dân vùng sâu, xa, đồng bào dân tộc.

Còn theo GS, TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: “Thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương cần xúc tiến thương mại trong và ngoài nước cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ Việt Nam; liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ; tập trung phát triển sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đối với một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực như: lúa, chè, cà-phê, hồ tiêu, rau, quả…. phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Đặc biệt, các địa phương có thể xây dựng đề án về nông nghiệp hữu cơ để xác định đúng sản phẩm có lợi thế có thể phát triển thành sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Đồng thời, quy hoạch và xây dựng vùng thâm canh sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đủ lớn để có khối lượng hàng hóa có thương hiệu”.

Cùng với đó, cần hỗ trợ nghiên cứu và phát triển công nghệ mới để cải thiện hiệu suất sản xuất và giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ; đầu tư vào cơ sở hạ tầng vận chuyển và lưu trữ để hỗ trợ việc phân phối sản phẩm nông nghiệp hữu cơ từ nông trại đến thị trường…

Thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương cần xúc tiến thương mại trong và ngoài nước cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ Việt Nam; liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ; tập trung phát triển sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đối với một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực như: lúa, chè, cà-phê, hồ tiêu, rau, quả…. phục vụ nội tiêu và xuất khẩu.

GS, TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Đẩy nhanh việc hỗ trợ địa phương xác định các vùng bảo đảm điều kiện sản xuất hữu cơ, ưu tiên theo hướng phát triển tập trung, quy mô hàng hóa gắn với các sản phẩm lợi thế; tăng cường các hoạt động kết nối sản xuất, tiêu thụ và quảng bá sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Đặc biệt, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất, tiêu thụ nông sản, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và quảng bá sản phẩm nông nghiệp hữu cơ…

nhandan.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Cùng nông dân kiến tạo giá trị mới từ nông nghiệp

Cùng nông dân kiến tạo giá trị mới từ nông nghiệp

Sáng nay (21/6), tại tổ dân phố 21, phường Trung Tâm, tỉnh Lào Cai, Lễ hội “Hoa trái bốn mùa - Trải nghiệm và kết nối” năm 2026 được UBND phường Trung Tâm tổ chức. Đây là ngày hội giới thiệu sản vật đặc trưng của địa phương - điểm nhấn trong hành trình xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm.

Lý Láo Sử - chàng trai người Dao làm giàu từ nuôi dúi

Lý Láo Sử - chàng trai người Dao làm giàu từ nuôi dúi

Từ bỏ công việc với mức thu nhập ổn định, anh Lý Láo Sử (sinh năm 1996), người dân tộc Dao ở thôn Ná Nàm, xã Bát Xát, quyết định trở về quê hương khởi nghiệp bằng mô hình nuôi dúi thương phẩm và dúi giống. Sau hơn một năm gây dựng, mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế bước đầu, mở ra hướng phát triển sinh kế mới trên vùng đất quê nhà.

Giải pháp bảo vệ rừng tự nhiên ở Bản Xèo

Giải pháp bảo vệ rừng tự nhiên ở Bản Xèo

Xã Bản Xèo hiện có gần 3.900 ha rừng tự nhiên. Trước thực trạng còn nhiều hộ dân canh tác trên diện tích rừng tự nhiên và một số lán tạm tồn tại trong rừng, địa phương đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng bền vững.

Chăn nuôi đại gia súc ở vùng đông hồ Thác Bà

Chăn nuôi đại gia súc ở vùng đông hồ Thác Bà

Phát huy lợi thế đồi rừng, diện tích đất bán ngập ven hồ cùng nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào, nhiều hộ dân tại các xã Cảm Nhân, Yên Thành và Thác Bà đã duy trì, mở rộng quy mô chăn nuôi đại gia súc lên hàng chục con mỗi hộ. Không chỉ tạo nguồn thu nhập ổn định cho gia đình, nghề chăn nuôi còn trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn vùng đông hồ Thác Bà.

Tốc độ tăng tổng sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn tỉnh ước đạt 5,3%

Tốc độ tăng tổng sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn tỉnh ước đạt 5,3%

Ngày 19/6, Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội nghị sơ kết hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp 6 tháng đầu năm; triển khai phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026. Đồng chí Giàng Quốc Hưng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh dự và chỉ đạo hội nghị.

13 hộ dân xã Mù Cang Chải nhận lại "sổ đỏ" sau 10 năm chờ đợi

13 hộ dân xã Mù Cang Chải nhận lại "sổ đỏ" sau 10 năm chờ đợi

Chiều 18/6, UBND xã Mù Cang Chải tổ chức trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được đính chính cho 13 hộ dân thuộc các thôn Dề Thàng, Chế Cu Nha và Trống Tông. Sự kiện này chính thức khép lại hơn 10 năm chờ đợi của các hộ dân do những sai sót trong quá trình cấp giấy chứng nhận trước đây.

Hội thảo “Phát huy vai trò của các tổ chức tài chính trong thúc đẩy xanh hóa tín dụng và phát triển kinh tế xanh"

Hội thảo “Phát huy vai trò của các tổ chức tài chính trong thúc đẩy xanh hóa tín dụng và phát triển kinh tế xanh"

Ngày 18/6, tại xã Lục Yên, Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng Yên Bái (YENBAI CDSH) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Phát huy vai trò của các tổ chức tài chính trong thúc đẩy xanh hóa tín dụng và phát triển kinh tế xanh".

Để cây chè mãi ngát hương

Để cây chè mãi ngát hương

Trong bức tranh kinh tế nông nghiệp của Lào Cai, cây chè từ lâu đã được xác định là một trong những cây trồng hàng hóa chủ lực. Tuy nhiên, để đưa hương chè vươn xa và nâng tầm giá trị trên bản đồ thế giới, cần những “cú huých” nhằm hóa giải các “điểm nghẽn”.

Bắc Hà mở hướng giảm nghèo từ những giống cây trồng mới

Bắc Hà mở hướng giảm nghèo từ những giống cây trồng mới

Năm 2026, xã Bắc Hà đặt mục tiêu giảm 3,5% hộ nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn xã xuống dưới 10%. Để thực hiện mục tiêu này, địa phương đang đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa các giống cây có giá trị kinh tế như chanh leo và chuối thương phẩm vào sản xuất, thay thế cây trồng truyền thống kém hiệu quả. 

Sinh kế và câu chuyện bảo tồn ruộng bậc thang Púng Luông

Sinh kế và câu chuyện bảo tồn ruộng bậc thang Púng Luông

Phía sau vẻ đẹp của những thửa ruộng bậc thang ở Púng Luông là hành trình lao động bền bỉ của nhiều thế hệ đồng bào Mông. Trong bối cảnh thiên tai diễn biến phức tạp, nguồn nước ngày càng biến động và yêu cầu phát triển du lịch bền vững đặt ra ngày càng cao, việc bảo tồn danh thắng không chỉ là gìn giữ cảnh quan mà còn là bảo vệ sinh kế, bản sắc văn hóa và những tri thức canh tác được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Thận trọng để bền vững

Phát triển cây mắc ca ở Lào Cai: Thận trọng để bền vững

Cây mắc ca đã bắt đầu cho quả bói trên những nương chè ở một số địa phương của Lào Cai, mở ra kỳ vọng về nguồn thu mới cho người dân. Tuy nhiên, từ những tín hiệu tích cực ban đầu đến việc hình thành một ngành hàng bền vững vẫn còn khoảng cách không nhỏ. Trước những rủi ro về giống, khí hậu, kỹ thuật và đầu ra sản phẩm, tỉnh xác định không phát triển cây mắc ca quy mô lớn khi chưa đủ căn cứ, mà đi từng bước chắc chắn, gắn với chuỗi giá trị và hiệu quả thực tế.

Bức tranh ngày mùa nơi vùng cao Lâm Thượng

Bức tranh ngày mùa nơi vùng cao Lâm Thượng

Những ngày này, thung lũng Lâm Thượng đang bước vào cao điểm thu hoạch lúa xuân. Tranh thủ thời tiết thuận lợi, nông dân khẩn trương ra đồng gặt lúa, đồng thời làm đất, giải phóng bờ bãi để kịp xuống giống vụ mùa. 

Đảng viên Tà Xi Láng tiên phong mở hướng thoát nghèo cho người dân vùng cao

Đảng viên Tà Xi Láng tiên phong mở hướng thoát nghèo cho người dân vùng cao

Là xã vùng đặc biệt khó khăn với phần lớn là đồng bào Mông sinh sống, Tà Xi Láng hiện vẫn còn tỷ lệ hộ nghèo ở mức 50,12%. Trước thực tế đó, nhiều đảng viên cơ sở đã tiên phong “đi trước, làm trước”, trở thành hạt nhân gương mẫu trong phát triển kinh tế, góp phần mở hướng thoát nghèo cho người dân vùng cao nơi đây.

Danh thắng quốc gia Ruộng bậc thang khát nước giữa mùa nước đổ

Danh thắng quốc gia Ruộng bậc thang khát nước giữa mùa nước đổ

Tháng 6 hằng năm, khi mùa nước đổ về trên những triền núi Mù Cang Chải, nhiều thửa ruộng bậc thang bắt đầu óng ánh mặt nước, tạo nên khung cảnh đặc trưng thu hút du khách. Thế nhưng ngay tại vùng lõi Danh thắng quốc gia Ruộng bậc thang, không ít chân ruộng vẫn khô nứt, cỏ dại mọc um tùm vì thiếu nước sản xuất.

Lào Cai: Mỏ Vàng báo cáo thực trạng nông thôn mới, chưa có tiêu chí nào đạt chuẩn

Lào Cai: Mỏ Vàng báo cáo thực trạng nông thôn mới, chưa có tiêu chí nào đạt chuẩn

Chiều 11/6, Đoàn công tác số 2 của Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh Lào Cai do đồng chí Đỗ Xuân Thủy - Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh làm Trưởng đoàn đã làm việc với xã Mỏ Vàng nhằm rà soát hiện trạng, đề xuất danh mục đầu tư và lộ trình thực hiện các tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030.

Khi nông dân sát cánh làm giàu

Khi nông dân sát cánh làm giàu

Khát vọng vươn lên xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc đang trở thành động lực mạnh mẽ của người nông dân Lào Cai hôm nay. Trên hành trình ấy, việc triển khai Quyết định số 182/QĐ-TTg ngày 20/2/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hội Nông dân Việt Nam tham gia phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp đến năm 2030” cùng các kế hoạch của tỉnh đã mở ra hướng đi mới cho nông dân.

fb yt zl tw