Ra mắt bộ sách có giá trị về lịch sử văn học Việt Nam

"Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam" là sản phẩm của một quá trình nghiên cứu, phê bình công phu các tác phẩm văn học thành văn và văn học truyền miệng, từ khởi thủy đến nửa đầu thế kỷ XIX; góp phần phác thảo một cách hệ thống diện mạo, tiến trình phát triển và những đặc điểm cơ bản của lịch sử văn học Việt Nam trong nhiều thế kỷ.

z7466402380963-d8c028aabab288a57.jpg
Bộ sách "Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam" góp phần phác thảo một cách hệ thống diện mạo, tiến trình phát triển và những đặc điểm cơ bản của lịch sử văn học Việt Nam trong suốt nhiều thế kỷ.

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật vừa tái bản bộ sách Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam gồm 5 quyển, do nhóm tác giả Văn Tân, Hoài Thanh, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Hồng Phong, Vũ Ngọc Phan biên soạn.

Văn học, nghệ thuật là một thành tố quan trọng của văn hóa, tác động trực tiếp đến quan điểm, nhận thức, tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn khẳng định và đánh giá cao vai trò, vị trí quan trọng của văn học, nghệ thuật trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát triển văn học, nghệ thuật theo hướng vừa tiếp thu các giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa bảo tồn bản sắc truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng đặc biệt của văn học nghệ thuật, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nghệ thuật đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, biên soạn, xuất bản nhiều ấn phẩm khái quát tiến trình hình thành, phát triển và tổng kết, đánh giá về những thành tựu, hạn chế của nền văn học nước nhà. Mỗi công trình ra đời không chỉ để “ghi chép” lịch sử mà còn để đặt nền móng cho cách nhìn, cách đọc và cách đánh giá lâu dài.

Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm tác giả gồm các nhà nghiên cứu Văn Tân, Hoài Thanh, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Hồng Phong và Vũ Ngọc Phan chính là một công trình như vậy. Dù mang tên “sơ thảo”, bộ sách không hề giản lược, mà trái lại, thể hiện một tầm vóc học thuật lớn, với nhiều điểm khác biệt căn bản so với các sách lịch sử văn học cùng nội dung xuất hiện trước và sau đó.

Bộ sách gồm 5 quyển: Quyển I: Phần ngữ ngôn văn tự và văn học truyền miệng; Quyển II: Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII; Quyển III: Thế kỷ XVIII; Quyển IV: Thế kỷ XVIII; Quyển V: Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX.

Bộ sách là sản phẩm của quá trình nghiên cứu các tác phẩm văn học thành văn và truyền miệng từ khởi thủy đến nửa đầu thế kỷ XIX. Trong đó nội dung mỗi tập sách là một cấu phần quan trọng, không thể tách rời trong tiến trình phát triển của văn học, và có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống văn hóa, tinh thần của dân tộc.

Điểm khác biệt nổi bật của Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam nằm ở tính thống nhất về tư tưởng khoa học. Không phải là một công trình cá nhân, cũng không phải là sự chắp nối cơ học của nhiều bài viết rời rạc, bộ sách là kết quả của sự cộng tác giữa những học giả hàng đầu, mỗi người có một thế mạnh riêng. Chính sự hội tụ này đã tạo nên một cái nhìn toàn diện, vừa có chiều sâu chuyên môn, vừa có sự cân đối hiếm thấy giữa các bộ phận của văn học dân tộc.

Một điểm thú vị khác là vị trí trung tâm mà Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam dành cho văn học dân gian. Trong khi không ít sách lịch sử văn học trước đó xem văn học dân gian như phần “mở đầu” mang tính tiền đề, được trình bày ngắn gọn, thì bộ sách này coi văn học dân gian là một bộ phận lớn, có đời sống lâu dài và ảnh hưởng sâu rộng.

Những truyện cổ tích, thần thoại, ca dao, tục ngữ, sử thi… không chỉ được giới thiệu, mà còn được phân tích về chức năng xã hội, giá trị thẩm mỹ và vai trò trong việc hình thành tâm hồn, tư duy nghệ thuật của người Việt. Cách nhìn ấy làm nổi bật tính liên tục của truyền thống, đồng thời giúp người đọc hiểu rõ hơn nguồn mạch dân tộc nuôi dưỡng văn học viết qua nhiều thế kỷ.

Có thể nói, vượt lên trên giá trị của một bộ sách lịch sử văn học thông thường, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam là một tư liệu rất bổ ích trong hành trình làm phong phú thêm nhận thức về nền văn học dân tộc. Không chỉ cung cấp tri thức, bộ sách còn cho thấy cách các nhà nghiên cứu thế hệ trước đặt vấn đề, hệ thống hóa tư liệu và tiếp cận văn học trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử và xã hội. Đây chính là điểm khác biệt và cũng là giá trị bền vững của công trình, khiến bộ sách tiếp tục có ý nghĩa tham khảo quan trọng đối với công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử văn học Việt Nam hiện nay.

nhandan.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Đánh thức giá trị thiết chế văn hóa Mường Lò

Đánh thức giá trị thiết chế văn hóa Mường Lò

Lòng chảo Mường Lò - nơi lưu giữ điệu xòe, câu khắp và bản sắc văn hóa Thái, các thiết chế như: Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu di tích lịch sử quốc gia Căng và Đồn Nghĩa Lộ cùng nhà sinh hoạt cộng đồng góp phần tạo nên chiều sâu văn hóa vùng đất phía Nam của tỉnh. Để phát huy hiệu quả, trở thành điểm tựa tinh thần và nguồn lực du lịch, những công trình này cần tầm nhìn dài hạn và sự đầu tư tương xứng.

Nơi tình yêu bắt đầu

Nơi tình yêu bắt đầu

Mỗi mùa hoa ban trắng rừng Tây Bắc, hang Thẩm Lé - hang Tình Yêu của người Thái Mường Lò - nơi trai gái gặp gỡ, tìm hiểu nhau qua tiếng khèn, tiếng pí và những câu hát giao duyên. Dẫu phong tục xưa dần mai một, ký ức về một miền yêu thương vẫn được các nghệ nhân gìn giữ, trao truyền như nét đẹp văn hóa của dân tộc.

Sẵn sàng cho Lễ hội “Sắc màu biên cương” Mường Khương

Sẵn sàng cho Lễ hội “Sắc màu biên cương” Mường Khương

Những ngày này, xã Mường Khương khẩn trương hoàn tất công tác chuẩn bị cho Lễ hội “Mường Khương - Sắc màu biên cương” lần thứ I năm 2026 (diễn ra ngày 7 và 8/11), từ tập luyện chương trình nghệ thuật, xây dựng không gian văn hóa, chỉnh trang đô thị đến khảo sát các vùng sản xuất nông nghiệp phục vụ tham quan, trải nghiệm.

Cô gái Khơ Mú và hành trình quảng bá văn hóa trên không gian số

Cô gái Khơ Mú và hành trình quảng bá văn hóa trên không gian số

Từ tình yêu với cội nguồn, Vì Thị Hương Giang, dân tộc Khơ Mú ở phường Nghĩa Lộ đã lựa chọn cách gìn giữ, lan tỏa bản sắc dân tộc bằng việc trực tiếp học hỏi, thực hành và chia sẻ những hình ảnh, câu chuyện văn hóa lên mạng xã hội, đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với giới trẻ.

Tối nay, trao giải Cuộc thi ảnh nghệ thuật 'Tự hào một dải biên cương' năm 2026

Tối nay, trao giải Cuộc thi ảnh nghệ thuật 'Tự hào một dải biên cương' năm 2026

Tối nay (30/10), tại TP Quảng Ninh diễn ra Lễ trao giải Cuộc thi và Triển lãm ảnh nghệ thuật cấp Quốc gia "Tự hào một dải biên cương" lần thứ IV năm 2026. Sự kiện do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức.

Lan tỏa bản sắc Mông từ tình yêu di sản

Lan tỏa bản sắc Mông từ tình yêu di sản

Sinh ra ở Mù Cang Chải, bén duyên làm dâu ở đỉnh núi mờ sương Suối Giàng, Thào Thị Trang từng ngày viết nên câu chuyện đẹp về tình yêu và khát vọng bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Mông. Không chỉ tỏa sáng trên các sân khấu lớn, Trang còn là “sứ giả” văn hóa thầm lặng ngay trên chính quê hương thứ hai của mình.

Nơi ký ức thắp sáng những vần thơ

Nơi ký ức thắp sáng những vần thơ

Giữa dòng chảy của đời sống đương đại, thơ ca vẫn là nơi con người tìm về để chữa lành tâm hồn, neo giữ ký ức thời gian. Thơ ca cũng trở thành nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại, gìn giữ những giá trị văn hóa, tình cảm gia đình và tình yêu nguồn cội. Để rồi, qua từng vần thơ mộc mạc mà sâu lắng, mỗi người như tìm thấy một miền ký ức của riêng mình, nơi những điều bình dị vẫn âm thầm nuôi dưỡng tâm hồn và làm nên sức sống của thi ca.

Giỗ Tổ Hùng Vương 2027: Lan tỏa giá trị di sản quanh năm

Giỗ Tổ Hùng Vương 2027: Lan tỏa giá trị di sản quanh năm

Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng và Năm Du lịch Đất Tổ 2027 được tỉnh Phú Thọ tổ chức với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao và du lịch xuyên suốt năm. Cách làm này hướng tới phát huy giá trị di sản, đa dạng hóa sản phẩm du lịch và thu hút du khách.

Vang tiếng khèn bè

Vang tiếng khèn bè

Ở tuổi ngoài 70, ông Lò Văn Hặc (tổ dân phố Tông Co 2, phường Nghĩa Lộ) vẫn nỗ lực gìn giữ và truyền dạy khèn bè Thái cho thế hệ trẻ. Với ông cũng như bao thế hệ người Thái, cây khèn bè không chỉ là nhạc cụ dân gian đơn thuần mà là linh hồn, sợi dây kết nối tâm linh và tình cảm cộng đồng của người Thái Mường Lò.

Xưởng may nhỏ góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống

Xưởng may nhỏ góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống

Trong dòng chảy hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số đứng trước nguy cơ mai một. Tại xã Võ Lao, tỉnh Lào Cai, chị Hà Thị Minh, người dân tộc Tày, đang nỗ lực khôi phục nghề dệt, may trang phục truyền thống. Xưởng may nhỏ của chị vừa góp phần gìn giữ bản sắc, vừa tạo việc làm cho lao động địa phương.

Hợp Thành nỗ lực bảo tồn văn hóa các dân tộc

Hợp Thành nỗ lực bảo tồn văn hóa các dân tộc

Sở hữu kho tàng di sản văn hóa phong phú của các dân tộc Tày, Dao, Xá Phó, Giáy…, xã Hợp Thành đang triển khai nhiều giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Trong đó, phát huy vai trò của cộng đồng, nghệ nhân trong việc truyền dạy cho thế hệ trẻ được xác định là hướng đi quan trọng để di sản tiếp tục hiện diện trong đời sống.

Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2027: Tổ chức các hoạt động xuyên suốt cả năm

Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2027: Tổ chức các hoạt động xuyên suốt cả năm

UBND tỉnh Phú Thọ vừa ban hành Kế hoạch số 426/KH-UBND, ngày 24/10/2026 về tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng và Năm Du lịch Đất Tổ 2027, với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch được triển khai xuyên suốt năm, nhằm tôn vinh giá trị văn hóa cội nguồn, quảng bá hình ảnh địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Vũ điệu từ những chiếc bát nhỏ

Vũ điệu từ những chiếc bát nhỏ

Giữa nhịp sống hiện đại, điệu múa bát truyền thống của đồng bào Tày ở xã Văn Bàn vẫn được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Với những chiếc bát sứ nhỏ cùng ngọn nến lung linh, điệu múa không chỉ thể hiện sự khéo léo, uyển chuyển của người biểu diễn mà còn gửi gắm ước vọng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, mùa màng tươi tốt, góp phần làm nên nét đẹp văn hóa độc đáo của người Tày vùng cao.

fb yt zl tw