Đến nay, toàn tỉnh có trên 85% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn “Gia đình văn hóa”, trong đó tiêu chí giữ gìn tiếng nói và nếp sống truyền thống luôn được coi trọng.
Qua những câu chuyện người lớn kể bên bếp lửa hay những lời ru của bà, trẻ em được học tiếng mẹ đẻ từ lúc mới biết nói. Vì thế, dù trẻ đi học ở trường và dùng tiếng phổ thông, nhưng khi về nhà vẫn giao tiếp bằng tiếng của dân tộc mình. Nhờ đó, trẻ em đồng bào dân tộc thiểu số tại các thôn, bản vùng cao sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ luôn đạt trên 90%.
Nhiều gia đình còn tranh thủ thời gian rảnh rỗi để dạy con cháu biết đọc, biết viết chữ Nôm Dao hay chữ Mông, giúp trẻ không quên tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình.
Nói về tầm quan trọng của gia đình trong bảo tồn di sản văn hóa, đồng chí Nông Việt Yên - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh chia sẻ: “Gia đình là “hạt nhân” bền vững nhất để bảo tồn văn hóa. Các đề án hay chính sách của Nhà nước chỉ đóng vai trò định hướng và hỗ trợ, còn lực lượng trực tiếp “giữ lửa” và trao truyền di sản cho thế hệ sau là các ông bà, cha mẹ trong mỗi nếp nhà. Khi văn hóa thấm sâu vào đời sống gia đình, bản sắc dân tộc sẽ có sức sống tự nhiên và lâu bền”.
Cùng với tiếng nói, các nghề truyền thống cũng được cha mẹ truyền lại cho con cháu ngay trong gia đình. Người mẹ, người bà dạy con gái cách thêu thùa, vẽ hoa văn bằng sáp ong, nhuộm chàm để tự may quần áo. Người cha, người ông dạy con trai cách làm khèn, đúc bạc, chạm khắc đồ dùng.
Toàn tỉnh hiện có hơn 30 làng nghề truyền thống được duy trì, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 4.000 lao động. Nhờ sự chỉ bảo tỉ mỉ giữa các thế hệ trong gia đình, những nghề thủ công tưởng như dễ bị mai một vẫn được gìn giữ và tiếp nối qua năm tháng.
Đồng chí Phạm Văn Quynh - Bí thư Đảng ủy xã Khao Mang cho biết: “Ở Khao Mang, việc truyền nghề trong gia đình được coi là trách nhiệm giữa các thế hệ. Hầu hết gia đình đều dạy con em mình cách thêu thùa, dệt vải hay làm nông cụ truyền thống ngay từ khi còn nhỏ. Nhờ vậy, xã không chỉ giữ được nghề truyền thống mà còn tạo thêm việc làm cho người dân lúc nông nhàn”.
Không chỉ giữ gìn, lưu giữ trong gia đình, nhiều hộ dân ở Lào Cai hiện nay còn biết làm kinh tế từ chính vốn văn hóa của mình. Tại các vùng trọng điểm như Sa Pa, Bắc Hà hay Bát Xát, hiện có hơn 500 mô hình du lịch cộng đồng (homestay) do các gia đình đồng bào dân tộc thiểu số làm chủ. Khách du lịch đến đây thích được ăn các món ăn truyền thống, xem múa khèn, ngâm chân lá thuốc và tìm hiểu đời sống sinh hoạt thực tế. Nhờ làm du lịch cộng đồng, thu nhập bình quân của các hộ dân đã tăng từ 2 - 3 lần so với trước đây, đạt từ 80 - 120 triệu đồng mỗi năm. Khi văn hóa mang lại thêm thu nhập và giúp cuộc sống bớt khó khăn, người dân càng thấy trân trọng và có ý thức giữ gìn những nếp sống truyền thống tốt đẹp.
Chia sẻ về niềm tự hào khi giữ gìn nếp nhà, ông Hảng A Chang ở xã Mù Cang Chải bày tỏ: “Trải qua nhiều thế hệ, gia đình tôi vẫn giữ nếp nhà truyền thống, mặc trang phục truyền thống và dùng tiếng Mông trong sinh hoạt. Tôi luôn dặn con cháu phải giữ gìn bản sắc, vì chính văn hóa dân tộc đã giúp gia đình có cuộc sống ấm no như hôm nay”.
Việc dạy dỗ chu đáo từ trong gia đình cũng giúp thế hệ trẻ có bản lĩnh vững vàng hơn. Các bạn trẻ biết trân trọng giá trị văn hóa của dân tộc mình, tự hào khi mặc trang phục truyền thống hay sử dụng tiếng dân tộc. Nhiều bạn trẻ sau khi đi học nghề hoặc học đại học đã trở về quê hương, dùng kiến thức mới để quảng bá văn hóa qua mạng xã hội hoặc phát triển các sản phẩm du lịch của gia đình.
Sự nỗ lực của mỗi gia đình luôn nhận được sự đồng hành từ chính quyền địa phương. Tỉnh đã triển khai nhiều việc làm thiết thực như hỗ trợ khôi phục các làng nghề, mở lớp dạy dân ca, dân vũ và động viên các nghệ nhân trong bản truyền dạy, gìn giữ văn hóa. Việc gắn kết giữa gia đình và chính quyền giúp cho công tác bảo tồn văn hóa đạt được hiệu quả rõ rệt.
Khi mỗi cá nhân, mỗi gia đình đều có ý thức tự giác giữ gìn tiếng nói, nếp sống và nghề truyền thống, bản sắc của các dân tộc sẽ luôn được tiếp nối và phát triển bền vững.