Trong căn bếp nhỏ tại thôn 10, xã Mường Lai, tỉnh Lào Cai, chị Nghiêm Thị Luyến đã có hơn 20 năm gắn bó với nghề làm bánh chưng gù – nét văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc Tày. Khác với bánh chưng vuông, bánh chưng gù có hình dáng thuôn dài, phần giữa nhô cao tượng trưng cho hình ảnh người phụ nữ đeo gùi trên lưng lao động trên nương.
Để có được chiếc bánh vừa ngon miệng, vừa đẹp mắt, chị Luyến phải tỉ mỉ từ khâu chọn lá đến gạo, thịt. Theo chị Luyến lá dong để gói bánh chưng gù phải chọn lá bánh tẻ, bởi nếu già bánh sẽ bị bạc màu, còn nếu lá non bánh sẽ bị nhão. Gạo để gói bánh cũng phải là nếp nương thơm, hạt tròn đều; đỗ xanh đãi sạch vỏ, thịt lợn phải là thịt ba chỉ tươi có cả nạc lẫn mỡ để khi dền bánh, mỡ ngấm ra quyện vào gạo nếp tạo độ béo ngậy. Cái khó nhất của gói bánh chưng gù là kỹ thuật bẻ sống lá và nặn hình. Không có khuôn, tất cả đều dựa vào cảm giác của đôi tay. Nếu tay không chắc, bánh sẽ bị lỏng, nước vào làm hỏng vị. Nếu siết quá chặt, hạt gạo không nở đều được.
Với chị Luyến, gói bánh chưng gù có thêm thu nhập cho gia đình trong dịp Tết, cũng là niềm tự hào về nguồn cội, là nét văn hóa của dân tộc. Mỗi dịp Tết đến, có nhiều đơn hàng trong và ngoài tỉnh, chị thấy vui vì hương vị của quê hương Mường Lai được mọi người đón nhận.
Chị Luyến tâm sự: Nghề này vất vả lắm, thức đêm hôm canh lửa là chuyện thường. Nhưng cứ nghĩ đến việc những chiếc bánh của mình xuất hiện trên mâm cúng gia tiên của mọi nhà, tôi lại thấy công sức mình bỏ ra thật ý nghĩa. Đây là cách chúng tôi giữ hồn cốt người Tày qua từng mùa Tết.
Tại xã Lục Yên, ông Đỗ Văn Tiến lại là người giữ lửa cho những chiếc bánh chưng vuông truyền thống của người Việt. Với thâm niên hơn 30 năm trong nghề, ông Tiến được xem là "nghệ nhân" gói bánh nức tiếng trong vùng. Căn bếp của gia đình ngày nào cũng tấp nập người ra vào, tiếng chẻ lạt, tiếng rửa lá tạo không khí rộn ràng đặc trưng. Trong dịp Tết, đơn hàng nhiều, ông Tiến phải huy động anh em, họ hàng cùng gói và luộc suốt đêm để kịp trả hàng cho khách.
Khác với sự mềm mại của bánh gù, bánh chưng vuông lại yêu cầu sự vuông vức, sắc cạnh và đồng đều. Dù không dùng khuôn mà gói hoàn toàn bằng tay, nhưng 10 chiếc như một. Ông Tiến cho biết: Hơn 30 năm qua tôi vẫn giữ công thức gói bánh gia truyền của gia đình. Để bánh xanh tự nhiên, chúng tôi dùng lá dong rừng loại bánh tẻ, rửa sạch và lau khô từng lá. Quan trọng nhất vẫn là khâu luộc bánh. Lửa phải đều, nước phải luôn ngập bánh và thời gian luộc phải đủ từ 10 đến 12 tiếng thì bánh mới dền, để được lâu mà không bị lại gạo.
Đối với ông Tiến, gói bánh chưng không đơn thuần là công việc mưu sinh. Ở tuổi ngoài lục tuần, đôi bàn tay đã chai sần vì sương gió, ông vẫn miệt mài bên công việc. Ông chia sẻ: Làm nghề phải có tâm và lòng tự trọng, phải chăm chút từ lúc còn là hạt gạo đến khi chín trên bếp lửa. Tôi muốn truyền lại cho con cháu để sau này dù xã hội có hiện đại đến đâu, hương vị bánh chưng truyền thống của dân tộc không bị mai một
Sự khác biệt về hình dáng giữa chiếc bánh chưng gù của người Tày và bánh chưng vuông của người Việt không làm thay đổi giá trị cốt lõi và hương vị truyền thống của món ăn này. Đó là biểu tượng của lòng biết ơn tổ tiên, là sự kết tinh của đất trời và sức lao động của con người. Những người như chị Luyến, ông Tiến chính là những người "giữ lửa", dệt nên hương vị Tết bằng sự tận tâm và tình yêu quê hương.
Mỗi mùa Tết đi qua, những đôi bàn tay ấy lại thêm phần chai sần, nhưng niềm đam mê với nghề thì vẫn cháy bỏng. Giữa dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, giá trị truyền thống đang được bảo tồn, làm nên cái Tết trọn vẹn, đậm đà bản sắc dân tộc.