Giá vàng sáng 11/9/2026 tiếp tục cho thấy sự lệch pha đáng kể giữa thị trường trong nước và quốc tế.
Vàng miếng SJC tại TP.HCM và miền Bắc vẫn được niêm yết 143,6 triệu đồng/lượng mua vào và 146,6 triệu đồng/lượng bán ra, không thay đổi so với ngày 10/9.
Giá vàng hôm nay 10/9: SJC đi ngang, vàng thế giới bật tăng 44 USD
Giá vàng thế giới sáng 10/9/2026 phục hồi lên khoảng 4.399 USD/ounce, trong khi SJC giữ ở 146,6 triệu đồng/lượng. PPI Mỹ tối nay có thể tạo biến động lớn trước cuộc họp Fed.
DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu và Phú Quý cũng chưa thay đổi bảng giá. Trong khi đó, vàng thế giới giảm từ 4.399 USD xuống khoảng 4.317 USD/ounce, mất 82 USD chỉ sau một ngày.
Áp lực bán xuất hiện sau khi PPI tháng 8 của Mỹ tăng 0,4% so với tháng trước và 5,4% so với cùng kỳ. Giá năng lượng tăng 4,2% trong tháng, khiến thị trường nâng xác suất Fed tăng lãi suất tại cuộc họp tuần tới lên khoảng 70%, từ 62% trước báo cáo.
Trong phiên Mỹ, vàng giao ngay có lúc giảm xuống 4.323,78 USD/ounce. Mức 4.317 USD trong dữ liệu đầu ngày 11/9 cho thấy áp lực bán còn tiếp diễn khi thị trường châu Á bắt đầu giao dịch.
Giá vàng SJC ngày 11/9
| Khu vực | Mua 11/9 | Bán 11/9 | Mua 10/9 | Bán 10/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| TP.HCM | 143,60 | 146,60 | 143,60 | 146,60 | Không đổi |
| Miền Bắc | 143,60 | 146,60 | 143,60 | 146,60 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán SJC giữ ở 3 triệu đồng/lượng.
Nếu so với mức 150,6 triệu đồng/lượng ngày 26/8, giá bán SJC hiện đã giảm 4 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, việc vàng thế giới giảm mạnh thêm trong đêm mà SJC chưa điều chỉnh khiến khoảng cách giữa hai thị trường nới rộng trở lại.
DOJI: Nhẫn 9999 vẫn bán 148 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm DOJI | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 143,60 | 146,60 |
| Kim TT/AVPL | 144,00 | 148,00 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 144,00 | 148,00 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 139,00 | 141,00 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 138,50 | 140,50 |
| Nữ trang 9999 | 143,00 | 147,00 |
| Nữ trang 999 | 142,50 | 146,50 |
| Nữ trang 99 | 140,80 | 145,50 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
DOJI không thay đổi giá so với ngày 10/9.
Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tiếp tục bán 148 triệu đồng/lượng, cao hơn vàng miếng SJC cùng hệ thống 1,4 triệu đồng.
Khoảng cách mua - bán của nhẫn vẫn là 4 triệu đồng/lượng. Đây là mức khá rộng nếu giao dịch ngắn hạn.
PNJ: Nhẫn trơn 999.9 giữ 146,5 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm PNJ | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 143,60 | 146,60 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 143,20 | 146,50 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 143,20 | 146,50 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 143,20 | 146,50 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 143,20 | 146,50 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 140,60 | 145,60 |
| Vàng nữ trang 999 | 140,45 | 145,45 |
| Vàng nữ trang 9920 | 138,24 | 144,44 |
| Vàng nữ trang 99 | 137,94 | 144,14 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Nhẫn trơn PNJ tiếp tục thấp hơn SJC khoảng 100.000 đồng/lượng ở chiều bán.
Khoảng cách mua - bán nhẫn ở mức khoảng 3,3 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| BTMC SJC | 143,60 | 146,60 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu giữ nguyên giá, ngang mặt bằng SJC phổ biến. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Phú Quý: Nhẫn 999.9 bán 147 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm Phú Quý | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 143,60 | 146,60 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 143,60 | 147,00 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 143,60 | 147,00 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 143,50 | 146,90 |
| Vàng trang sức 999.9 | 141,00 | 146,00 |
| Vàng trang sức 999 | 140,90 | 145,90 |
| Vàng trang sức 99 | 139,59 | 144,54 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Nhẫn Phú Quý cao hơn vàng miếng cùng hệ thống khoảng 400.000 đồng/lượng. Khoảng cách mua - bán khoảng 3,4 triệu đồng/lượng.
Vàng thế giới mất hơn 80 USD, vì sao giảm mạnh?
| Chỉ tiêu | 11/9/2026 | 10/9/2026 |
|---|---|---|
| Giá vàng | 4.317 | 4.399 |
| Thấp nhất | 4.316 | 4.342 |
| Cao nhất | 4.325 | 4.434 |
| Thay đổi | -82 USD | |
| Tỷ lệ | khoảng -1,86% |
Đơn vị: USD/ounce.
Cú giảm lần này khác với nhiều nhịp điều chỉnh trước ở chỗ vàng đang cùng lúc chịu sức ép từ lạm phát, dầu và lợi suất trái phiếu.
PPI tháng 8 tăng 0,4% so với tháng trước. So với cùng kỳ, chỉ số này tăng 5,4%, cao hơn mức 4,8% của tháng 7. Đáng chú ý, giá năng lượng tăng 4,2%, trong đó dầu diesel tăng tới 24,1%.
Ngay sau dữ liệu, xác suất thị trường đặt cược Fed tăng 0,25 điểm phần trăm tại cuộc họp ngày 15-16/9 lên khoảng 70%.
Đây là bất lợi trực tiếp với vàng, bởi kim loại quý không sinh lãi. Khi nhà đầu tư kỳ vọng lãi suất và lợi suất trái phiếu còn tăng, chi phí cơ hội nắm giữ vàng cũng cao hơn.
Lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 10 năm đã tăng lên vùng cao nhất gần ba năm, trong khi lợi suất 30 năm lên mức cao nhất hơn 19 năm.
Dầu Brent vượt 107 USD/thùng: Tin tốt hay xấu cho vàng?
Căng thẳng tại Trung Đông tiếp tục leo thang và đẩy giá năng lượng tăng mạnh.
Kết thúc phiên 10/9, dầu Brent tăng hơn 6% lên 107,63 USD/thùng, còn WTI lên 102,48 USD/thùng. Hoạt động vận tải tại Hormuz và các tuyến năng lượng khu vực tiếp tục bị ảnh hưởng bởi các vụ tấn công tàu.
Thông thường, bất ổn địa chính trị là yếu tố hỗ trợ vàng.
Nhưng ở giai đoạn này, thị trường lại chú ý nhiều tới hệ quả lạm phát của giá dầu trên 100 USD. Năng lượng càng đắt, áp lực để Fed duy trì chính sách cứng rắn càng lớn.
Vì thế vàng đang rơi vào thế khó: nhu cầu trú ẩn có thể tăng, nhưng sức ép từ lãi suất và lợi suất trái phiếu còn mạnh hơn.
CPI Mỹ tối 11/9 sẽ quyết định hướng đi
Sau PPI, thị trường chuyển toàn bộ sự chú ý sang CPI tháng 8 được công bố tối 11/9 theo giờ Việt Nam.
Đồng thuận thị trường hiện dự báo CPI toàn phần tăng khoảng 0,4% so với tháng trước, CPI lõi tăng 0,2%. So với cùng kỳ, CPI toàn phần được dự báo khoảng 3,4%, CPI lõi khoảng 2,4%.
Đây có thể là báo cáo quyết định cuộc họp Fed ngày 15-16/9.
Nếu CPI cao hơn dự báo, xác suất Fed tăng lãi suất có thể vượt mức 70% hiện nay. USD và lợi suất trái phiếu khi đó có thể tiếp tục tăng, gây thêm áp lực cho vàng.
Nếu CPI thấp hơn rõ rệt, thị trường có thể nhanh chóng giảm đặt cược vào một đợt tăng lãi suất và vàng có cơ hội hồi mạnh.
Một điểm đáng chú ý là dù thị trường tài chính hiện nghiêng về khả năng Fed tăng lãi suất, đa số các nhà kinh tế được Reuters khảo sát vẫn dự báo Fed sẽ giữ nguyên lãi suất. Điều này cho thấy mức độ bất định trước CPI vẫn rất lớn.
Vàng thế giới quy đổi chỉ còn khoảng 135,8 triệu đồng/lượng
Do bài được thực hiện từ rất sớm sáng 11/9, bảng tỷ giá chính thức của Vietcombank cho ngày mới chưa được cập nhật đầy đủ. Mức cuối ngày 10/9 ghi nhận USD mua tiền mặt 25.690 đồng, mua chuyển khoản 25.720 đồng và bán ra 26.100 đồng/USD.
Sử dụng tỷ giá bán 26.100 đồng/USD và giá vàng 4.317 USD/ounce:
4.317 × 26.100 × 37,5 / 31,1034768
tương đương khoảng:
135,85 triệu đồng/lượng.
Con số trên chưa bao gồm thuế, phí, gia công và chi phí kinh doanh.
Trong khi SJC đang bán:
146,6 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách tương ứng:
10,75 triệu đồng/lượng.
Có thể làm tròn:
khoảng 10,8 triệu đồng/lượng.
Đây là thay đổi đáng chú ý so với ngày 10/9, khi khoảng cách tham khảo chỉ khoảng 8 triệu đồng/lượng.
Nguyên nhân chủ yếu là vàng quốc tế mất hơn 80 USD trong khi SJC chưa giảm.
Nếu vàng thế giới tiếp tục giữ dưới 4.350 USD trong nhiều giờ tới, áp lực điều chỉnh đối với bảng giá trong nước có thể tăng.
Dự báo giá vàng trong nước và thế giới 11/9/2026
Kịch bản vàng thế giới
Sau khi rơi xuống sát 4.300 USD, vùng này đang trở thành hỗ trợ tâm lý quan trọng nhất.
Kịch bản cơ sở:
4.280 - 4.380 USD/ounce.
Nếu giá giữ được vùng 4.300 - 4.320 USD và CPI thấp hơn dự kiến, vàng có thể hồi lên:
4.350 - 4.380 USD;
sau đó là 4.400 USD.
Nếu vượt được 4.400 USD, vùng 4.430 - 4.450 USD sẽ là kháng cự tiếp theo.
Ngược lại, nếu CPI nóng và vàng xuyên thủng 4.300 USD, các vùng hỗ trợ có thể lùi xuống:
4.250 - 4.280 USD;
xa hơn là 4.200 - 4.230 USD.
Biên độ tối 11/9 có thể rất lớn do thị trường đồng thời phản ứng với CPI, dầu trên 100 USD và kỳ vọng Fed.
Kịch bản giá SJC
SJC hiện ở 143,6 - 146,6 triệu đồng/lượng.
Kịch bản cơ sở trong ngày:
142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới phục hồi mạnh trên 4.380 - 4.400 USD, SJC có thể tiếp tục duy trì vùng 146 - 147 triệu đồng/lượng, thậm chí tăng nhẹ.
Nếu vàng thế giới tiếp tục nằm dưới 4.300 USD, khả năng SJC điều chỉnh xuống:
145 - 146 triệu đồng/lượng ở chiều bán
sẽ tăng.
Trong kịch bản vàng quốc tế giảm sâu xuống 4.250 USD hoặc thấp hơn, thị trường trong nước có thể chịu áp lực giảm mạnh hơn do chênh lệch hiện đã nới lên gần 11 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn: Cần đặc biệt chú ý chênh giá giữa thương hiệu
Giá bán nhẫn hiện tại:
DOJI: 148 triệu đồng/lượng.
Phú Quý: 147 triệu đồng/lượng.
PNJ: 146,5 triệu đồng/lượng.
Như vậy DOJI đang cao hơn PNJ khoảng 1,5 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán cũng khá rộng:
DOJI: 4 triệu đồng/lượng.
PNJ: khoảng 3,3 triệu đồng/lượng.
Phú Quý: khoảng 3,4 triệu đồng/lượng.
Với mức chênh như vậy, người mua ngắn hạn không chỉ đối mặt với biến động của giá vàng thế giới mà còn phải bù được khoảng cách mua - bán trước khi có lợi nhuận.
Giá vàng 11/9: Mốc 4.300 USD quan trọng hơn cả
Thị trường đang bước vào một phiên có thể quyết định xu hướng ngắn hạn của vàng trước cuộc họp Fed.
PPI đã làm tăng đáng kể khả năng Fed nâng lãi suất.
Dầu Brent vượt 107 USD/thùng đang khiến nỗi lo lạm phát lớn hơn.
Lợi suất trái phiếu Mỹ vẫn ở vùng cao nhiều năm.
Vì vậy, vàng cần một báo cáo CPI đủ mềm để đảo chiều những sức ép này.
Nếu CPI thấp, mốc 4.300 USD có thể trở thành vùng tạo đáy ngắn hạn và giá có cơ hội hồi lên 4.380 - 4.400 USD.
Nếu CPI tiếp tục nóng, 4.300 USD có nguy cơ bị xuyên thủng, kéo vàng xuống vùng 4.250 - 4.280 USD.
Ở thị trường trong nước, điểm đáng lưu ý nhất là SJC vẫn đứng yên 146,6 triệu đồng/lượng trong khi vàng quốc tế đã giảm xuống 4.317 USD.
Chênh lệch quy đổi vì thế tăng lên khoảng 10,8 triệu đồng/lượng. Đây là mức đủ lớn để người mua cần thận trọng với giao dịch ngắn hạn trước khi CPI Mỹ được công bố.