Thị trường vàng sáng 8/9/2026 bắt đầu tuần giao dịch đầy đủ tại Mỹ với áp lực điều chỉnh khá rõ.
Vàng miếng SJC tại TP.HCM và miền Bắc giảm đồng loạt 1,1 triệu đồng/lượng so với ngày 7/9, xuống còn 143,5 triệu đồng/lượng mua vào và 146,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Giá vàng chiều 7/9: Đồng loạt giảm mạnh
Giá vàng hôm nay (chiều 7/9): Giá vàng miếng SJC trong nước chiều nay giảm mạnh so với chiều qua, với mức giảm lên tới 600.000 đồng/lượng. Giá vàng thế giới mở phiên giao dịch với mức giảm 0,52% trong 24 giờ qua khi dữ liệu việc làm khả quan của Mỹ làm tăng kỳ vọng về việc tăng lãi suất.
Vàng nhẫn cũng đồng loạt đi xuống. DOJI đưa giá bán nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng từ 150 triệu đồng xuống 149 triệu đồng/lượng. PNJ hạ nhẫn 999.9 xuống 146,4 triệu đồng/lượng, còn Phú Quý giảm về 146,8 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường thế giới, giá đầu ngày ở khoảng 4.413 USD/ounce, giảm 18 USD so với mức 4.431 USD/ounce ngày 7/9, tương đương khoảng 0,41%.
Reuters ghi nhận vàng giao ngay giảm 0,4% xuống khoảng 4.410,55 USD/ounce trong phiên thứ Hai. Báo cáo việc làm Mỹ mạnh hơn dự kiến tiếp tục khiến thị trường nghiêng về khả năng Fed tăng lãi suất tại cuộc họp giữa tháng 9.
Giá vàng SJC 8/9 giảm 1,1 triệu đồng/lượng
| Khu vực | Mua 8/9 | Bán 8/9 | Mua 7/9 | Bán 7/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| TP.HCM | 143,50 | 146,50 | 144,60 | 147,60 | -1,10/-1,10 |
| Miền Bắc | 143,50 | 146,50 | 144,60 | 147,60 | -1,10/-1,10 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Mức giảm 1,1 triệu đồng đưa SJC xuống thấp nhất kể từ giai đoạn tăng mạnh cuối tháng 8.
Nếu so với đỉnh ngắn hạn 150,6 triệu đồng/lượng ngày 26/8, giá bán SJC hiện đã giảm:
4,1 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán vẫn được giữ ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Diễn biến này cho thấy thị trường trong nước đang tiếp tục điều chỉnh để phản ánh tốt hơn xu hướng hạ nhiệt của vàng quốc tế.
DOJI: Nhẫn 9999 mất mốc 150 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm DOJI | Mua 8/9 | Bán 8/9 | Mua 7/9 | Bán 7/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 143,50 | 146,50 | 144,60 | 147,60 | -1,10 |
| Kim TT/AVPL | 145,00 | 149,00 | 146,00 | 150,00 | -1,00 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 145,00 | 149,00 | 146,00 | 150,00 | -1,00 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 139,50 | 141,50 | 140,50 | 142,50 | -1,00 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 139,00 | 141,00 | 140,00 | 142,00 | -1,00 |
| Nữ trang 9999 | 143,50 | 147,50 | 144,50 | 148,50 | -1,00 |
| Nữ trang 999 | 143,00 | 147,00 | 144,00 | 148,00 | -1,00 |
| Nữ trang 99 | 141,30 | 146,00 | 142,30 | 147,00 | -1,00 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Nhẫn DOJI giảm 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều nhưng vẫn có giá bán cao hơn vàng miếng SJC tới:
2,5 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán nhẫn tiếp tục ở mức 4 triệu đồng/lượng.
Đây vẫn là mức khá cao đối với giao dịch ngắn hạn.
So với mức 154 triệu đồng/lượng ngày 26/8, giá bán nhẫn DOJI hiện đã giảm khoảng:
5 triệu đồng/lượng.
PNJ: Nhẫn trơn giảm 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm PNJ | Mua 8/9 | Bán 8/9 | Mua 7/9 | Bán 7/9 | Thay đổi mua/bán |
|---|---|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 143,50 | 146,50 | 144,60 | 147,60 | -1,10/-1,10 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 143,00 | 146,40 | 144,10 | 147,60 | -1,10/-1,20 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 143,00 | 146,40 | 144,10 | 147,60 | -1,10/-1,20 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 143,00 | 146,40 | 144,10 | 147,60 | -1,10/-1,20 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 143,00 | 146,40 | 144,10 | 147,60 | -1,10/-1,20 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 140,40 | 145,40 | 141,60 | 146,60 | -1,20 |
| Vàng nữ trang 999 | 140,25 | 145,25 | 141,45 | 146,45 | -1,20 |
| Vàng nữ trang 9920 | 138,04 | 144,24 | 139,23 | 145,43 | khoảng -1,19 |
| Vàng nữ trang 99 | 137,75 | 143,95 | 138,93 | 145,13 | khoảng -1,18 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Nhẫn trơn PNJ 999.9 hiện bán ở 146,4 triệu đồng/lượng, thấp hơn vàng miếng SJC khoảng 100.000 đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán nhẫn PNJ ở mức 3,4 triệu đồng/lượng.
So với DOJI, giá nhẫn PNJ thấp hơn tới 2,6 triệu đồng/lượng ở chiều bán.
Mức chênh này tiếp tục cho thấy người mua vàng nhẫn cần so sánh giá giữa các thương hiệu trước khi giao dịch.
Bảo Tín Minh Châu giảm 1,1 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua 8/9 | Bán 8/9 | Mua 7/9 | Bán 7/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| BTMC SJC | 143,50 | 146,50 | 144,60 | 147,60 | -1,10/-1,10 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu tiếp tục niêm yết ngang mặt bằng SJC phổ biến.
Khoảng cách mua - bán giữ ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Phú Quý: Nhẫn 999.9 giảm còn 146,8 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm Phú Quý | Mua 8/9 | Bán 8/9 | Mua 7/9 | Bán 7/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 143,50 | 146,50 | 144,60 | 147,60 | -1,10 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 143,50 | 146,80 | 144,60 | 147,90 | -1,10 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 143,50 | 146,80 | 144,60 | 147,90 | -1,10 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 143,40 | 146,70 | 144,50 | 147,80 | -1,10 |
| Vàng trang sức 999.9 | 141,00 | 146,00 | 142,00 | 147,00 | -1,00 |
| Vàng trang sức 999 | 140,90 | 145,90 | 141,90 | 146,90 | -1,00 |
| Vàng trang sức 99 | 139,59 | 144,54 | 140,58 | 145,53 | khoảng -0,99 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Nhẫn Phú Quý hiện chỉ cao hơn vàng miếng SJC cùng hệ thống khoảng 300.000 đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán nhẫn ở mức 3,3 triệu đồng/lượng.
Vàng thế giới giảm về vùng 4.410 USD/ounce
| Chỉ tiêu | 8/9/2026 | 7/9/2026 |
|---|---|---|
| Giá vàng | 4.413 | 4.431 |
| Thấp nhất | 4.406 | 4.418 |
| Cao nhất | 4.414 | 4.431 |
| Thay đổi | -18 USD | |
| Tỷ lệ | khoảng -0,41% |
Đơn vị: USD/ounce.
Dữ liệu này khá tương đồng với thị trường quốc tế.
Reuters ghi nhận vàng giao ngay giảm 0,4% xuống 4.410,55 USD/ounce. Thị trường tiếp tục chịu ảnh hưởng từ báo cáo lao động Mỹ mạnh và kỳ vọng lãi suất cao hơn.
Điểm đáng chú ý là vùng 4.400 USD đang được thử thách.
Reuters dẫn nhận định cho rằng lực mua có xu hướng xuất hiện khi vàng xuống dưới 4.400 USD, trong khi vùng 4.500 USD vẫn là kháng cự đáng kể.
Fed tăng lãi suất tháng 9 đang trở thành kịch bản chính
Báo cáo việc làm tháng 8 của Mỹ tiếp tục tác động tới thị trường.
Nền kinh tế Mỹ tạo thêm 162.000 việc làm trong tháng 8, cao hơn rất nhiều dự báo trước đó, trong khi tỷ lệ thất nghiệp giữ ở 4,1%.
Sau dữ liệu này, thị trường nâng xác suất Fed tăng lãi suất tại cuộc họp giữa tháng 9 lên khoảng 58-60%. UBS cũng thay đổi dự báo và hiện kỳ vọng Fed tăng 0,25 điểm phần trăm trong cả tháng 9 và tháng 12.
Đây là một trong những lực cản lớn nhất đối với vàng hiện nay.
Vàng không mang lại lãi suất. Khi lãi suất và lợi suất trái phiếu tăng, chi phí cơ hội khi nắm giữ vàng cũng tăng.
Cuộc họp Fed ngày 15-16/9 là bước ngoặt
Lịch chính thức của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ xác nhận FOMC sẽ họp trong hai ngày 15-16/9, với quyết định chính sách và họp báo vào ngày 16/9.
Fed hiện giữ lãi suất ở vùng 3,50 - 3,75%.
Tuy nhiên, quyết định tăng hay giữ nguyên vẫn phụ thuộc rất lớn vào hai báo cáo lạm phát được công bố trước cuộc họp.
Đó là PPI và CPI tháng 8.
PPI công bố ngày 10/9, CPI ngày 11/9
Theo lịch chính thức của Cục Thống kê Lao động Mỹ:
PPI tháng 8 được công bố ngày 10/9 lúc 8h30 giờ miền Đông Mỹ.
CPI tháng 8 được công bố ngày 11/9, cũng lúc 8h30.
Đây nhiều khả năng là hai thời điểm tạo biến động lớn nhất của vàng trong tuần này.
Với giờ Việt Nam, các báo cáo được công bố vào buổi tối.
CPI sẽ quyết định vàng phá 4.500 USD hay mất 4.400 USD?
Dữ liệu tháng 7 cho thấy CPI Mỹ tăng 3,4% so với cùng kỳ, trong khi CPI lõi tăng 2,5%.
Các dự báo hiện nghiêng về khả năng lạm phát tháng 8 vẫn ở mức cao, trong bối cảnh năng lượng tiếp tục đắt đỏ.
Một số dự báo thị trường cho rằng CPI toàn phần có thể duy trì quanh 3,4%, còn CPI lõi có thể hạ nhẹ.
Nếu lạm phát thấp hơn đáng kể kỳ vọng, Fed có thể có lý do giữ nguyên lãi suất và vàng có cơ hội bật tăng.
Ngược lại, nếu CPI nóng, xác suất Fed tăng lãi suất sẽ tăng rõ rệt.
Giá dầu gần 100 USD làm bài toán lạm phát khó hơn
Một rủi ro quan trọng khác đến từ năng lượng.
Reuters ghi nhận dầu Brent trong phiên 7/9 tăng khoảng 1,3% lên 97,5 USD/thùng trong bối cảnh căng thẳng Mỹ - Iran tiếp tục leo thang.
Iran cảnh báo có thể áp đặt vùng hạn chế hàng hải mới tại khu vực Vịnh Ba Tư và đe dọa các cơ sở năng lượng trong khu vực nếu Mỹ tiếp tục tấn công.
Giá dầu cao ảnh hưởng đến vàng theo hai hướng.
Một mặt, căng thẳng địa chính trị thúc đẩy nhu cầu tài sản trú ẩn.
Mặt khác, năng lượng đắt hơn có thể kéo lạm phát tăng và khiến Fed phải giữ chính sách tiền tệ cứng rắn.
Ở thời điểm hiện tại, tác động từ lãi suất đang phần nào lấn át lực mua trú ẩn.
Eo biển Hormuz tiếp tục là biến số khó lường
Căng thẳng xung quanh eo biển Hormuz vẫn là rủi ro lớn đối với thị trường năng lượng.
Iran đang gây sức ép lên hoạt động hàng hải, trong khi UAE đẩy mạnh các tuyến xuất khẩu năng lượng thay thế để giảm phụ thuộc vào Hormuz.
Bất kỳ sự gián đoạn mới nào tại khu vực này đều có thể khiến dầu tăng mạnh.
Nếu dầu Brent vượt 100 USD/thùng, thị trường có thể lập tức nâng kỳ vọng lạm phát.
Đó sẽ là diễn biến không thuận lợi với vàng về góc độ lãi suất, dù đồng thời làm tăng nhu cầu trú ẩn.
Vàng thế giới quy đổi khoảng 139,5 triệu đồng/lượng
Tỷ giá bán USD tại Vietcombank sáng 8/9 được ghi nhận khoảng:
26.210 đồng/USD.
Giá mua tiền mặt khoảng 25.800 đồng và mua chuyển khoản khoảng 25.830 đồng/USD.
Với vàng thế giới ở mức 4.413 USD/ounce:
4.413 × 26.210 × 37,5 / 31,1034768
tương đương khoảng:
139,45 triệu đồng/lượng.
Con số này chưa bao gồm thuế, phí, chi phí gia công và các chi phí kinh doanh.
Giá bán SJC hiện là:
146,5 triệu đồng/lượng.
Như vậy, SJC đang cao hơn vàng thế giới quy đổi khoảng:
7,05 triệu đồng/lượng.
Có thể làm tròn:
khoảng 7,1 triệu đồng/lượng.
Chênh lệch SJC - thế giới tiếp tục thu hẹp nhẹ
Ngày 7/9, khoảng cách tham khảo giữa SJC và thế giới khoảng 7,3 triệu đồng/lượng.
Sáng 8/9, SJC giảm tới 1,1 triệu đồng/lượng, trong khi vàng thế giới chỉ giảm khoảng 18 USD/ounce.
Kết quả là khoảng cách giảm còn khoảng 7,1 triệu đồng/lượng.
Mức này thấp hơn đáng kể so với vùng hơn 11 triệu đồng/lượng từng xuất hiện đầu tháng 9.
Tuy nhiên, khoảng cách hơn 7 triệu đồng vẫn là yếu tố cần được tính đến với người mua vàng miếng.
Dự báo giá vàng thế giới 8/9/2026
Mốc quan trọng nhất trong phiên hiện là:
4.400 USD/ounce.
Kịch bản cơ sở
Vàng có thể dao động:
4.380 - 4.460 USD/ounce.
Trong đó khu vực 4.400 - 4.430 USD nhiều khả năng đóng vai trò vùng cân bằng.
Kịch bản tăng
Nếu vàng giữ vững trên 4.400 USD và lấy lại:
4.440 - 4.450 USD,
giá có thể kiểm tra:
4.470 - 4.500 USD/ounce.
Vượt 4.500 USD sẽ mở lại khả năng hướng tới:
4.520 - 4.550 USD/ounce.
Kịch bản giảm
Nếu vàng thủng rõ:
4.400 USD,
mục tiêu gần có thể là:
4.360 - 4.380 USD/ounce.
Nếu áp lực bán tiếp tục tăng, vùng:
4.300 - 4.330 USD
có thể được kiểm tra.
Dự báo giá vàng trong nước 8/9/2026
SJC hiện ở:
143,5 - 146,5 triệu đồng/lượng.
Sau mức giảm 1,1 triệu đồng sáng nay, khả năng xuất hiện thêm các điều chỉnh lớn trong ngày sẽ phụ thuộc vào vàng quốc tế.
Kịch bản cơ sở
SJC có thể dao động:
143 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Giá bán chủ yếu có thể nằm quanh:
146 - 147 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới vượt 4.470 USD
SJC có khả năng phục hồi:
147 - 148,5 triệu đồng/lượng.
Nhẫn vàng cũng có thể tăng trở lại.
Nếu vàng thế giới thủng 4.380 USD
Giá bán SJC có thể lùi về:
145 - 146 triệu đồng/lượng.
Nếu cả vùng 4.300 USD bị kiểm tra, áp lực giảm trong nước có thể lớn hơn.
Vàng nhẫn đang phân hóa rất mạnh
Giá bán nhẫn 9999/999.9 sáng 8/9:
DOJI: 149 triệu đồng/lượng.
PNJ: 146,4 triệu đồng/lượng.
Phú Quý: 146,8 triệu đồng/lượng.
Chênh lệch DOJI với PNJ lên tới:
2,6 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, khoảng cách mua - bán cũng khác nhau.
DOJI:
4 triệu đồng/lượng.
PNJ:
3,4 triệu đồng/lượng.
Phú Quý:
3,3 triệu đồng/lượng.
Vì vậy, người mua vàng nhẫn không nên chỉ nhìn vào xu hướng chung mà cần kiểm tra giá cụ thể tại từng doanh nghiệp.
Có nên mua vàng khi SJC đã giảm hơn 4 triệu đồng từ đỉnh?
SJC hiện thấp hơn đỉnh cuối tháng 8 khoảng 4,1 triệu đồng/lượng.
Mức giảm này có thể khiến giá trở nên hấp dẫn hơn với một bộ phận người mua.
Tuy nhiên, ba rủi ro ngắn hạn vẫn còn.
Thứ nhất, giá vàng thế giới đang thử thách vùng 4.400 USD.
Thứ hai, thị trường đang nghiêng về khả năng Fed tăng lãi suất vào ngày 16/9.
Thứ ba, PPI và CPI Mỹ sẽ lần lượt được công bố trong hai ngày 10 và 11/9.
Do đó, biến động lớn của vàng có thể chưa kết thúc.
Ngoài ra, người mua còn phải vượt qua mức chênh mua - bán khoảng 3 - 4 triệu đồng/lượng trước khi có lợi nhuận trong giao dịch ngắn hạn.
Kết luận dự báo
Thị trường vàng ngày 8/9 đang chịu áp lực điều chỉnh khá rõ.
SJC giảm 1,1 triệu đồng/lượng xuống 146,5 triệu đồng; nhẫn DOJI giảm về 149 triệu đồng; PNJ và Phú Quý cũng đồng loạt hạ giá.
Vàng thế giới ở khoảng 4.413 USD/ounce, gần với mức 4.410,55 USD mà Reuters ghi nhận trong phiên 7/9. Dữ liệu việc làm Mỹ mạnh khiến xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 lên quanh 60%, tạo sức ép lên kim loại quý.
Trong vài ngày tới, PPI ngày 10/9 và CPI ngày 11/9 sẽ là hai chất xúc tác quan trọng nhất. Fed sau đó họp ngày 15-16/9.
Về kỹ thuật, 4.400 USD là mốc cần theo dõi sát.
Nếu giữ được vùng này, vàng vẫn có cơ hội phục hồi về 4.470 - 4.500 USD.
Nếu thủng 4.400 USD, vùng 4.360 - 4.380 USD có thể trở thành mục tiêu tiếp theo.
Trong nước, giá SJC đang cao hơn vàng thế giới quy đổi khoảng 7,1 triệu đồng/lượng. Khoảng cách đã thu hẹp đáng kể so với đầu tháng nhưng vẫn đủ lớn để người mua ngắn hạn cần thận trọng trước loạt dữ liệu lạm phát Mỹ.