Thị trường vàng sáng 5/9/2026 tiếp tục xuất hiện sự phân hóa giữa trong nước và quốc tế.
Vàng miếng SJC tại TP.HCM và miền Bắc tăng 200.000 đồng/lượng so với ngày 4/9, lên mức 145,6 triệu đồng/lượng mua vào và 148,6 triệu đồng/lượng bán ra.
Giá vàng sáng hôm nay 4/9/2026: SJC tăng 700.000 đồng, áp sát 150 triệu
Giá vàng hôm nay 4/9/2026 đồng loạt tăng, SJC và DOJI lên 149,1 triệu đồng/lượng, trong khi một số sản phẩm tại Bảo Tín Minh Châu vượt 150 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn tăng mạnh hơn tại một số thương hiệu. DOJI nâng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng thêm 1 triệu đồng/lượng, đưa giá bán trở lại mức 150,5 triệu đồng/lượng. Phú Quý cũng nâng giá bán nhẫn lên 148,9 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, vàng thế giới theo dữ liệu cập nhật đầu ngày ở khoảng 4.430 USD/ounce, giảm 42 USD so với mức 4.472 USD/ounce ngày 4/9, tương đương giảm khoảng 0,94%.
Biên độ trong ngày rất rộng, từ 4.366 đến 4.491 USD/ounce, phản ánh phản ứng mạnh của nhà đầu tư sau báo cáo việc làm tháng 8 của Mỹ.
Reuters ghi nhận vàng có thời điểm giảm hơn 2% xuống 4.364,99 USD/ounce sau khi số liệu việc làm Mỹ vượt xa dự báo. Giá giao ngay sau đó phục hồi một phần nhưng vẫn giảm khoảng 1,2% xuống 4.419,09 USD/ounce vào cuối phiên.
Giá vàng SJC ngày 5/9/2026 tăng 200.000 đồng/lượng
| Khu vực | Mua 5/9 | Bán 5/9 | Mua 4/9 | Bán 4/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| TP.HCM | 145,60 | 148,60 | 145,40 | 148,40 | +0,20/+0,20 |
| Miền Bắc | 145,60 | 148,60 | 145,40 | 148,40 | +0,20/+0,20 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán tiếp tục giữ ở mức 3 triệu đồng/lượng.
So với mức đỉnh ngắn hạn 150,6 triệu đồng/lượng ngày 26/8, giá bán SJC hiện thấp hơn 2 triệu đồng/lượng.
Tuy nhiên, diễn biến sáng 5/9 cho thấy giá trong nước chưa phản ánh hoàn toàn cú giảm của vàng quốc tế sau báo cáo việc làm Mỹ.
Trong khi vàng thế giới giảm gần 1% nếu so theo hai mốc dữ liệu đầu ngày, SJC lại tăng 200.000 đồng/lượng.
Điều này khiến chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế bắt đầu nới rộng trở lại.
DOJI: Nhẫn 9999 tăng 1 triệu đồng, vượt 150 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm DOJI | Mua 5/9 | Bán 5/9 | Mua 4/9 | Bán 4/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 145,60 | 148,60 | 145,40 | 148,40 | +0,20 |
| Kim TT/AVPL | 146,50 | 150,50 | 145,50 | 149,50 | +1,00 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 146,50 | 150,50 | 145,50 | 149,50 | +1,00 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 140,50 | 142,50 | 139,50 | 141,50 | +1,00 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 140,00 | 142,00 | 139,00 | 141,00 | +1,00 |
| Nữ trang 9999 | 144,50 | 148,50 | 143,50 | 147,50 | +1,00 |
| Nữ trang 999 | 144,00 | 148,00 | 143,00 | 147,00 | +1,00 |
| Nữ trang 99 | 142,30 | 147,00 | 141,30 | 146,00 | +1,00 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
DOJI là thương hiệu có mức tăng nổi bật nhất sáng 5/9.
Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tăng đồng loạt 1 triệu đồng/lượng, lên 146,5 - 150,5 triệu đồng/lượng.
Như vậy giá bán nhẫn DOJI hiện cao hơn vàng miếng SJC cùng hệ thống khoảng:
1,9 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán của nhẫn tiếp tục ở mức 4 triệu đồng/lượng.
Đây là mức khá rộng. Người mua ở 150,5 triệu đồng/lượng nhưng bán lại ngay chỉ được doanh nghiệp mua vào ở 146,5 triệu đồng/lượng.
PNJ: Nhẫn trơn tăng nhẹ lên 148,5 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm PNJ | Mua 5/9 | Bán 5/9 | Mua 4/9 | Bán 4/9 | Thay đổi mua/bán |
|---|---|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 145,60 | 148,60 | 145,40 | 148,40 | +0,20/+0,20 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 145,10 | 148,50 | 145,00 | 148,30 | +0,10/+0,20 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 145,10 | 148,50 | 145,00 | 148,30 | +0,10/+0,20 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 145,10 | 148,50 | 145,00 | 148,30 | +0,10/+0,20 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 145,10 | 148,50 | 145,00 | 148,30 | +0,10/+0,20 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 142,50 | 147,50 | 142,30 | 147,30 | +0,20 |
| Vàng nữ trang 999 | 142,35 | 147,35 | 142,15 | 147,15 | +0,20 |
| Vàng nữ trang 9920 | 140,12 | 146,32 | 139,92 | 146,12 | khoảng +0,20 |
| Vàng nữ trang 99 | 139,83 | 146,03 | 139,63 | 145,83 | khoảng +0,20 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
PNJ tăng nhẹ hầu hết các dòng sản phẩm.
Nhẫn trơn 999.9 được bán ở 148,5 triệu đồng/lượng, thấp hơn vàng miếng SJC khoảng 100.000 đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán nhẫn PNJ hiện khoảng 3,4 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu tăng mạnh trở lại
| Sản phẩm | Mua 5/9 | Bán 5/9 | Mua 4/9 | Bán 4/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| BTMC SJC | 145,60 | 148,60 | 144,40 | 147,40 | +1,20/+1,20 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Sau phiên giảm mạnh ngày 4/9, Bảo Tín Minh Châu tăng trở lại 1,2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều.
Giá bán hiện quay về mức 148,6 triệu đồng/lượng, ngang mặt bằng SJC phổ biến.
Khoảng cách mua - bán được thu hẹp về 3 triệu đồng/lượng.
Phú Quý: Nhẫn 999.9 bán 148,9 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm Phú Quý | Mua 5/9 | Bán 5/9 | Mua 4/9 | Bán 4/9 | Thay đổi mua/bán |
|---|---|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 145,60 | 148,60 | 145,40 | 148,40 | +0,20/+0,20 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 145,60 | 148,90 | 145,40 | 148,40 | +0,20/+0,50 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 145,60 | 148,90 | 145,40 | 148,40 | +0,20/+0,50 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 145,50 | 148,80 | 145,30 | 148,30 | +0,20/+0,50 |
| Vàng trang sức 999.9 | 142,80 | 147,80 | 142,50 | 147,50 | +0,30 |
| Vàng trang sức 999 | 142,70 | 147,70 | 142,40 | 147,40 | +0,30 |
| Vàng trang sức 99 | 141,37 | 146,32 | 141,08 | 146,03 | khoảng +0,30 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Giá nhẫn Phú Quý tăng mạnh hơn vàng miếng ở chiều bán, lên 148,9 triệu đồng/lượng.
Nhẫn hiện cao hơn giá bán vàng miếng SJC tại Phú Quý khoảng 300.000 đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán nhẫn vào khoảng 3,3 triệu đồng/lượng.
Vàng thế giới giảm 42 USD so với mốc ngày 4/9
| Chỉ tiêu | 5/9/2026 | 4/9/2026 |
|---|---|---|
| Giá vàng | 4.430 | 4.472 |
| Thấp nhất | 4.366 | 4.471 |
| Cao nhất | 4.491 | 4.479 |
| Thay đổi | -42 USD | |
| Tỷ lệ | khoảng -0,94% |
Đơn vị: USD/ounce.
Biên độ 125 USD/ounce chỉ trong một phiên cho thấy mức độ biến động rất lớn của thị trường.
Reuters ghi nhận sau báo cáo việc làm, vàng có lúc giảm hơn 2% về 4.364,99 USD/ounce trước khi hồi lên. Cuối phiên Mỹ, vàng giao ngay vẫn giảm khoảng 1,2% xuống 4.419,09 USD/ounce.
Điều đó cho thấy lực mua bắt đáy vẫn xuất hiện quanh vùng 4.360 - 4.400 USD, nhưng chưa đủ để loại bỏ áp lực từ lãi suất.
Báo cáo việc làm Mỹ gây bất ngờ lớn
Sự kiện quan trọng nhất của thị trường trong 24 giờ qua là báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 8.
Nền kinh tế Mỹ tạo thêm:
162.000 việc làm.
Trong khi giới kinh tế được Reuters khảo sát chỉ dự báo:
56.000 việc làm.
Con số thực tế cao gần gấp ba lần dự báo.
Dữ liệu tháng 7 cũng được điều chỉnh từ mức giảm 23.000 việc làm thành tăng 21.000 việc làm.
Tỷ lệ thất nghiệp giữ ở:
4,1%.
Lực lượng lao động tăng thêm khoảng 683.000 người, trong khi tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng lên 61,6%.
Báo cáo này làm thay đổi mạnh nhận định rằng thị trường lao động Mỹ đang suy yếu nhanh.
Vì sao báo cáo việc làm khiến vàng giảm mạnh?
Vàng không mang lại lãi suất.
Khi nền kinh tế Mỹ còn đủ mạnh để chịu được lãi suất cao, Fed có ít lý do phải nới lỏng tiền tệ và nhiều dư địa hơn để tiếp tục chống lạm phát.
Ngay sau báo cáo việc làm, xác suất thị trường đặt cược Fed tăng lãi suất tại cuộc họp ngày 15-16/9 tăng lên khoảng 65%, từ khoảng 55% trước khi dữ liệu được công bố.
Điều này lập tức gây bất lợi cho vàng.
Lợi suất trái phiếu Mỹ bật tăng
Phản ứng rõ nhất xuất hiện trên thị trường trái phiếu.
Lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm có thời điểm lên:
4,792%.
Sau đó ổn định quanh:
4,774%.
Lợi suất kỳ hạn 2 năm, loại đặc biệt nhạy với kỳ vọng Fed, chạm mức cao nhất kể từ tháng 1/2025.
Lợi suất cao làm tăng chi phí cơ hội khi nắm giữ vàng.
Đây là lý do kim loại quý chịu sức ép mạnh ngay sau báo cáo lao động.
Đồng USD tăng trở lại
Chỉ số USD tăng khoảng 0,2% sau dữ liệu việc làm.
Đồng bạc xanh mạnh lên làm vàng đắt hơn đối với nhà đầu tư sử dụng các đồng tiền khác.
Phiên 4/9 vì thế xuất hiện bộ ba bất lợi đối với vàng:
việc làm mạnh;
lợi suất tăng;
USD tăng.
Đây chính là nguyên nhân vàng từng mất hơn 100 USD/ounce chỉ trong thời gian ngắn.
Nhưng tiền lương lại cho tín hiệu bớt nóng
Báo cáo việc làm không hoàn toàn bất lợi với vàng.
Tiền lương bình quân theo giờ tăng khoảng 3,1% so với cùng kỳ, giảm từ 3,2% trong tháng 7.
Theo một số chuyên gia được Reuters dẫn lại, đây là tốc độ tăng tiền lương thấp nhất kể từ giữa năm 2021.
Điều đó cho thấy áp lực lạm phát từ tiền lương không tăng tương ứng với tốc độ tuyển dụng.
Vì vậy, báo cáo CPI tuần tới vẫn có khả năng thay đổi đáng kể kỳ vọng về Fed.
CPI Mỹ trở thành tâm điểm mới của giá vàng
Sau bảng lương phi nông nghiệp, thị trường chuyển ngay sang dữ liệu lạm phát.
Cả CPI và PPI Mỹ sẽ được công bố trong tuần tới, ngay trước cuộc họp Fed ngày 15-16/9.
Reuters đánh giá các báo cáo này có thể là yếu tố quyết định việc Fed có thực sự tăng lãi suất trong tháng 9 hay không.
Nếu CPI tiếp tục cao, xác suất tăng lãi suất có thể tăng mạnh hơn nữa.
Nếu CPI thấp hơn dự báo, vàng có cơ hội phục hồi vì Fed sẽ khó thực hiện thêm một đợt thắt chặt ngay lập tức.
Citigroup lùi dự báo Fed cắt lãi suất sang năm 2027
Một tín hiệu đáng chú ý khác đến từ Citigroup.
Sau báo cáo việc làm mạnh, ngân hàng này đã bỏ dự báo Fed cắt lãi suất vào tháng 10 và tháng 12/2026.
Citi hiện cho rằng đợt cắt giảm tiếp theo có thể phải chờ tới:
tháng 6/2027.
Ngân hàng dự kiến ba lần giảm 0,25 điểm phần trăm vào tháng 6, tháng 9 và tháng 12/2027.
Điều này phản ánh sự thay đổi đáng kể trong kỳ vọng chính sách tiền tệ sau dữ liệu lao động.
Mỹ - Iran vẫn tạo lực đỡ phòng thủ cho vàng
Rủi ro Trung Đông chưa biến mất.
Các cuộc tấn công mới trong chiến sự Mỹ - Iran đã khiến giá dầu tăng mạnh trong những ngày trước.
Tuy nhiên, phiên 4/9, dầu hạ nhiệt. Brent giảm khoảng 1,3% xuống 94,26 USD/thùng, còn WTI giảm khoảng 1,6% xuống 89,87 USD/thùng.
Việc dầu giảm giúp hạ bớt áp lực lạm phát năng lượng.
Ở chiều ngược lại, xung đột vẫn tạo nhu cầu trú ẩn tiềm ẩn đối với vàng.
Do đó, rủi ro địa chính trị hiện đóng vai trò như một lớp hỗ trợ, giúp hạn chế phần nào mức giảm của kim loại quý khi Fed trở nên cứng rắn hơn.
Vàng thế giới quy đổi khoảng 140,3 triệu đồng/lượng
Để quy đổi tham khảo, sử dụng mức tỷ giá bán USD Vietcombank gần nhất khoảng:
26.260 đồng/USD.
Trang tỷ giá của Vietcombank mà công cụ tìm kiếm cập nhật gần nhất vẫn ghi nhận bảng giá ngày 4/9; do thời điểm bài được thực hiện khoảng 5 giờ sáng 5/9, ngân hàng chưa cập nhật đầy đủ bảng tỷ giá ngày mới.
Với vàng thế giới 4.430 USD/ounce:
4.430 × 26.260 × 37,5 / 31,1034768
tương đương khoảng:
140,26 triệu đồng/lượng.
Mức trên chưa bao gồm thuế, phí, gia công và các chi phí kinh doanh khác.
Trong khi đó, SJC đang bán ở:
148,6 triệu đồng/lượng.
Như vậy, SJC cao hơn vàng thế giới quy đổi khoảng:
8,34 triệu đồng/lượng.
Có thể làm tròn:
khoảng 8,3 triệu đồng/lượng.
Chênh lệch SJC - thế giới lại nới rộng
Ngày 4/9, mức chênh theo giá đầu ngày chỉ khoảng 6,8 triệu đồng/lượng.
Sáng 5/9, khoảng cách tăng lên khoảng 8,3 triệu đồng.
Nguyên nhân đến từ hai chiều ngược nhau:
vàng thế giới giảm;
SJC trong nước lại tăng 200.000 đồng/lượng.
Mức chênh hơn 8 triệu đồng/lượng chưa phải cực đoan như vùng trên 11 triệu đồng xuất hiện đầu tuần, nhưng vẫn khá cao.
Đây là yếu tố cần đặc biệt lưu ý với những người mua vàng nhằm mục đích giao dịch trong thời gian ngắn.
Dự báo giá vàng thế giới 5/9/2026
Sau báo cáo việc làm, xu hướng ngắn hạn của vàng trở nên thận trọng hơn.
Tuy nhiên, việc giá phục hồi từ đáy 4.365 USD cho thấy khu vực thấp đang xuất hiện lực mua.
Kịch bản cơ sở
Vàng có thể dao động:
4.380 - 4.480 USD/ounce.
Vùng 4.400 - 4.430 USD có thể tiếp tục đóng vai trò khu vực cân bằng.
Kịch bản phục hồi
Nếu vàng lấy lại:
4.450 - 4.470 USD
giá có khả năng kiểm tra:
4.490 - 4.500 USD/ounce.
Vượt được 4.500 USD sẽ giúp cải thiện đáng kể cấu trúc kỹ thuật và mở đường trở lại:
4.520 - 4.550 USD/ounce.
Kịch bản giảm
Nếu vàng mất:
4.400 USD/ounce
giá có thể quay lại kiểm tra:
4.360 - 4.380 USD/ounce.
Đây chính là vùng đáy của phiên vừa qua.
Nếu 4.360 USD bị xuyên thủng, mục tiêu tiếp theo có thể là:
4.300 - 4.330 USD/ounce.
Dự báo giá vàng trong nước 5/9/2026
SJC hiện được niêm yết 145,6 - 148,6 triệu đồng/lượng.
Kịch bản cơ sở
Giá có thể dao động:
145 - 149,5 triệu đồng/lượng.
Giá bán nhiều khả năng duy trì quanh 148 - 149 triệu đồng nếu vàng quốc tế tiếp tục giữ trên vùng 4.400 USD.
Nếu vàng thế giới phục hồi trên 4.470 USD
SJC có thể tăng lên:
149 - 150 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn có khả năng phản ứng nhanh hơn. DOJI hiện đã đưa giá bán nhẫn trở lại trên 150 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới thủng 4.360 USD
Áp lực điều chỉnh trong nước sẽ tăng rõ rệt.
SJC có thể lùi về:
146,5 - 148 triệu đồng/lượng ở chiều bán.
Khoảng cách hơn 8 triệu đồng với thế giới vẫn tạo dư địa để doanh nghiệp điều chỉnh nếu thị trường quốc tế giảm thêm.
Nhẫn DOJI vượt 150 triệu đồng có phải tín hiệu tăng mới?
Việc nhẫn DOJI tăng tới 1 triệu đồng/lượng trong sáng 5/9 là diễn biến đáng chú ý, nhưng chưa đủ để xác nhận toàn bộ thị trường vàng nhẫn quay trở lại xu hướng tăng nóng.
Giá nhẫn DOJI hiện bán 150,5 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó:
PNJ chỉ 148,5 triệu đồng/lượng;
Phú Quý 148,9 triệu đồng/lượng.
Chênh lệch giữa DOJI và PNJ lên tới khoảng:
2 triệu đồng/lượng.
Điều này cho thấy giá vàng nhẫn vẫn đang phân hóa rất mạnh giữa từng hệ thống.
Người mua vì vậy nên so sánh cả giá mua và giá bán, thay vì chỉ nhìn mức niêm yết cao nhất trên thị trường.
Người mua vàng cần chú ý điều gì trong ngày 5/9?
Rủi ro lớn nhất hiện nay nằm ở khoảng cách giữa giá trong nước và quốc tế, cùng chênh lệch mua - bán.
SJC chênh khoảng:
3 triệu đồng/lượng.
Nhẫn DOJI:
4 triệu đồng/lượng.
Nhẫn PNJ:
3,4 triệu đồng/lượng.
Nhẫn Phú Quý:
3,3 triệu đồng/lượng.
BTMC SJC:
3 triệu đồng/lượng.
Cùng lúc, SJC cao hơn vàng thế giới quy đổi khoảng 8,3 triệu đồng/lượng.
Với cấu trúc giá như vậy, giao dịch ngắn hạn vẫn có rủi ro lớn ngay cả khi dự báo trung hạn đối với vàng chưa hoàn toàn tiêu cực.
Yếu tố nào sẽ quyết định vàng tuần tới?
Báo cáo việc làm mạnh đã giúp thị trường giải quyết một câu hỏi: kinh tế Mỹ chưa yếu nhanh như lo ngại trước đó.
Câu hỏi còn lại là:
lạm phát có đủ thấp để Fed tiếp tục đứng ngoài hay không?
Vì vậy CPI và PPI tuần tới sẽ thay thế báo cáo việc làm để trở thành tâm điểm mới.
Nếu lạm phát cao, xác suất Fed tăng lãi suất có thể vượt đáng kể mức 65% hiện nay. Khi đó vàng sẽ tiếp tục chịu sức ép.
Nếu CPI yếu, thị trường có thể nhanh chóng giảm đặt cược tăng lãi suất và vàng có cơ hội lấy lại vùng 4.500 USD.
Kết luận dự báo
Ngày 5/9 mở đầu với sự phân kỳ đáng chú ý.
Vàng thế giới giảm từ 4.472 USD xuống khoảng 4.430 USD/ounce sau báo cáo việc làm Mỹ mạnh hơn rất nhiều dự báo.
Nền kinh tế Mỹ tạo thêm 162.000 việc làm trong tháng 8, gần gấp ba mức kỳ vọng 56.000, khiến khả năng Fed tăng lãi suất tháng 9 tăng lên khoảng 65%.
Trong nước, SJC lại tăng nhẹ lên 148,6 triệu đồng/lượng, còn nhẫn DOJI tăng mạnh lên 150,5 triệu đồng.
Khoảng cách SJC với thế giới quy đổi vì thế nới lên khoảng 8,3 triệu đồng/lượng.
Trong ngắn hạn, vùng 4.360 - 4.400 USD là hỗ trợ quan trọng của vàng thế giới, trong khi 4.470 - 4.500 USD là vùng kháng cự cần vượt để tái lập xu hướng phục hồi.
Sau báo cáo việc làm, thị trường sẽ chuyển toàn bộ sự chú ý sang dữ liệu CPI và PPI Mỹ trong tuần tới. Đây nhiều khả năng sẽ là chất xúc tác quyết định liệu Fed có tăng lãi suất tại cuộc họp ngày 15-16/9 và cũng sẽ quyết định hướng đi tiếp theo của giá vàng.