Thị trường vàng bước sang tháng 9 với trạng thái giằng co rõ rệt. Trong nước, vàng miếng SJC tiếp tục duy trì mức 145,7 triệu đồng/lượng mua vào và 148,7 triệu đồng/lượng bán ra. Vàng nhẫn tại nhiều hệ thống đã lùi về quanh hoặc thấp hơn giá vàng miếng.
Giá vàng hôm nay 31/8: SJC đi ngang, vàng thế giới chịu sức ép từ lãi suất Mỹ
Giá vàng SJC sáng 31/8/2026 giữ ở 148,7 triệu đồng/lượng, trong khi vàng thế giới quanh 4.450 USD/ounce. USD, lợi suất Mỹ và căng thẳng Iran tiếp tục chi phối thị trường.
Ở thị trường quốc tế, dữ liệu sáng 1/9 cho thấy vàng ở 4.451,14 USD/ounce, cao hơn mức 4.437 USD/ounce ngày 31/8 khoảng 14,14 USD, tương đương 0,32%.
Biên độ đầu ngày khá hẹp, từ 4.447,95 đến 4.456,07 USD/ounce, cho thấy lực mua bắt đáy đã xuất hiện nhưng thị trường vẫn thận trọng sau cú giảm mạnh cuối tuần trước.
Trước đó, vàng giao ngay trong phiên 31/8 từng giảm về khoảng 4.433 USD/ounce, gần đáy hai tuần, do giới đầu tư tăng đặt cược Fed sẽ nâng lãi suất sau thông điệp cứng rắn của Chủ tịch Kevin Warsh. Xác suất Fed tăng lãi suất trong tháng 9 đã lên khoảng 64%.
Giá vàng SJC ngày 1/9/2026
| Khu vực | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| TP.HCM | 145,70 | 148,70 |
| Miền Bắc | 145,70 | 148,70 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán tiếp tục ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Mức giá 148,7 triệu đồng/lượng hiện thấp hơn đáng kể so với vùng trên 150 triệu đồng từng xuất hiện trong những ngày cuối tháng 8, nhưng vẫn cao hơn khá xa giá vàng thế giới quy đổi.
Điều này khiến diễn biến quốc tế trong vài phiên tới đặc biệt quan trọng đối với khả năng điều chỉnh tiếp của SJC.
DOJI: Nhẫn 9999 ở 149,2 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm DOJI | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 145,70 | 148,70 |
| Kim TT/AVPL | 145,20 | 149,20 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 145,20 | 149,20 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 140,50 | 142,50 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 140,00 | 142,00 |
| Nữ trang 9999 | 144,50 | 148,50 |
| Nữ trang 999 | 144,00 | 148,00 |
| Nữ trang 99 | 142,30 | 147,00 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng được DOJI niêm yết 145,2 - 149,2 triệu đồng/lượng.
Giá bán chỉ còn cao hơn vàng miếng SJC cùng hệ thống khoảng 500.000 đồng/lượng.
Tuy nhiên, chênh lệch mua - bán vẫn ở mức 4 triệu đồng/lượng. Đây tiếp tục là mức khá rộng đối với người có nhu cầu mua vàng để giao dịch trong thời gian ngắn.
PNJ: Nhẫn trơn ngang giá vàng miếng
| Sản phẩm PNJ | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 145,70 | 148,70 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 145,70 | 148,70 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 145,70 | 148,70 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 145,70 | 148,70 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 145,70 | 148,70 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 143,00 | 148,00 |
| Vàng nữ trang 999 | 142,85 | 147,85 |
| Vàng nữ trang 9920 | 140,62 | 146,82 |
| Vàng nữ trang 99 | 140,32 | 146,52 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Tại PNJ, vàng miếng SJC và nhẫn trơn 999.9 cùng được niêm yết 145,7 - 148,7 triệu đồng/lượng.
Việc vàng nhẫn quay về ngang giá SJC cho thấy sự chênh lệch mạnh từng xuất hiện trong giai đoạn giá tăng nóng cuối tháng 8 đã thu hẹp đáng kể.
Bảo Tín Minh Châu: Chênh mua - bán 3,6 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| BTMC SJC | 145,10 | 148,70 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu giữ giá bán SJC ở mức 148,7 triệu đồng/lượng nhưng giá mua chỉ ở 145,1 triệu đồng.
Khoảng cách mua - bán vì vậy lên tới 3,6 triệu đồng/lượng, rộng hơn mức 3 triệu đồng tại nhiều hệ thống.
Độ rộng này cho thấy doanh nghiệp vẫn khá thận trọng với biến động giá ngắn hạn.
Phú Quý: Nhẫn 999.9 bán 148,4 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm Phú Quý | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 145,40 | 148,70 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 145,40 | 148,40 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 145,40 | 148,40 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 145,30 | 148,30 |
| Vàng trang sức 999.9 | 142,50 | 147,50 |
| Vàng trang sức 999 | 142,40 | 147,40 |
| Vàng trang sức 99 | 141,08 | 146,03 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 hiện bán ở 148,4 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá bán SJC cùng hệ thống khoảng 300.000 đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán nhẫn ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Vàng thế giới sáng 1/9 hồi lên 4.451 USD/ounce
| Chỉ tiêu | 1/9/2026 | 31/8/2026 |
|---|---|---|
| Giá vàng | 4.451,14 | 4.437 |
| Thấp nhất | 4.447,95 | 4.397 |
| Cao nhất | 4.456,07 | 4.472 |
| Thay đổi | +14,14 USD | |
| Tỷ lệ | khoảng +0,32% |
Đơn vị: USD/ounce.
Đà hồi sáng nay chưa đủ lớn để xác nhận vàng đã kết thúc giai đoạn điều chỉnh.
Trong phiên Mỹ gần nhất, vàng có thời điểm giảm xuống khoảng 4.433 USD/ounce. Kim loại quý chịu sức ép từ lãi suất, kỳ vọng lạm phát và giá dầu tăng sau khi xung đột Mỹ - Iran tiếp tục leo thang.
Mức 4.450 USD hiện trở thành vùng cân bằng quan trọng. Nếu giá duy trì được trên khu vực này, khả năng xuất hiện thêm lực mua bắt đáy sẽ tăng.
Fed tiếp tục là lực cản lớn nhất của vàng
Thị trường đang định giá khoảng 64% khả năng Fed tăng lãi suất tại cuộc họp tháng 9, cao hơn rất nhiều so với khoảng 35% trước bài phát biểu Jackson Hole của Chủ tịch Kevin Warsh.
Fed hiện phải đối mặt với bài toán khá khó: lạm phát vẫn trên mục tiêu, trong khi thị trường lao động bắt đầu xuất hiện tín hiệu yếu hơn.
Vàng không mang lại lãi suất. Vì thế, bất kỳ sự gia tăng nào của kỳ vọng nâng lãi suất đều làm tăng chi phí cơ hội khi nắm giữ kim loại quý.
Đây là nguyên nhân khiến vàng khó phục hồi mạnh dù nhu cầu trú ẩn vẫn hiện diện.
Lợi suất trái phiếu Mỹ lên mức cao
Lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đã lên khoảng 4,764%, mức cao nhất kể từ tháng 1/2025.
Đây là một trở ngại đáng kể đối với vàng.
Trong khi vàng không tạo ra dòng tiền, trái phiếu Chính phủ Mỹ đang đem lại mức lợi suất cao. Nếu lợi suất tiếp tục tăng, một phần dòng vốn có thể chuyển khỏi kim loại quý.
Ngược lại, nếu báo cáo việc làm Mỹ yếu và lợi suất quay đầu giảm, vàng có cơ hội phục hồi rõ hơn.
Đồng USD hạ nhẹ nhưng vẫn ở vùng cao
Chỉ số USD đã giảm khoảng 0,24% xuống 99,43 điểm trong phiên gần nhất, sau khi từng đạt 99,73 điểm - mức cao nhất kể từ giữa tháng 8.
USD giảm nhẹ đang giúp vàng bớt áp lực trong phiên sáng 1/9.
Tuy nhiên, đồng bạc xanh vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất.
Vì vậy, để vàng hình thành một nhịp hồi mạnh hơn, thị trường có thể cần thấy đồng thời hai tín hiệu: USD giảm và lợi suất trái phiếu hạ nhiệt.
Mỹ - Iran tiếp tục tạo biến động cho vàng và dầu
Rủi ro địa chính trị vẫn là lực đỡ đáng kể đối với vàng.
Các cuộc tấn công mới giữa Mỹ và Iran đã khiến giá dầu tăng hơn 2%. Dầu WTI lên khoảng 85,51 USD/thùng và Brent đạt khoảng 90,34 USD/thùng.
Thông thường, bất ổn địa chính trị làm tăng nhu cầu tìm kiếm vàng như một tài sản trú ẩn.
Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, dầu tăng cũng làm gia tăng nguy cơ lạm phát. Điều đó lại củng cố khả năng Fed phải giữ chính sách tiền tệ chặt chẽ.
Vì vậy, xung đột Trung Đông đang tạo tác động hai chiều đối với vàng: hỗ trợ nhu cầu trú ẩn nhưng đồng thời gây sức ép thông qua lạm phát và lãi suất.
Báo cáo việc làm Mỹ trở thành sự kiện quan trọng nhất tuần
Sau Jackson Hole, thị trường chuyển sự chú ý sang báo cáo việc làm tháng 8 của Mỹ.
Dữ liệu bảng lương phi nông nghiệp được công bố vào ngày 4/9.
Khảo sát Reuters gần nhất dự báo kinh tế Mỹ có thể tạo thêm khoảng 55.000 việc làm trong tháng 8.
Con số này sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc họp Fed ngày 15-16/9.
Nếu việc làm cao hơn đáng kể dự báo, thị trường có thể nâng thêm xác suất Fed tăng lãi suất, gây áp lực lên vàng.
Ngược lại, nếu số việc làm thấp hoặc tiếp tục giảm, kỳ vọng tăng lãi suất có thể suy yếu nhanh.
Trong trường hợp đó, vàng có thể trở thành một trong những tài sản phản ứng mạnh nhất.
Vàng thế giới quy đổi khoảng 140,9 triệu đồng/lượng
Để quy đổi tham khảo, có thể sử dụng mức tỷ giá bán USD gần nhất tại Vietcombank là khoảng 26.260 đồng/USD. Đây là mức được ghi nhận trong những phiên cuối tháng 8.
Với giá vàng thế giới 4.451,14 USD/ounce:
4.451,14 × 26.260 × 37,5 / 31,1034768
tương đương khoảng:
140,93 triệu đồng/lượng.
Mức quy đổi trên chưa bao gồm thuế, phí, chi phí gia công và chi phí kinh doanh.
Giá bán SJC hiện là:
148,7 triệu đồng/lượng.
Như vậy SJC đang cao hơn vàng thế giới quy đổi khoảng:
7,77 triệu đồng/lượng.
Có thể làm tròn:
khoảng 7,8 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách này vẫn khá lớn và là một trong những rủi ro đáng chú ý đối với thị trường trong nước.
Chênh lệch gần 8 triệu đồng có thể ảnh hưởng giá SJC ra sao?
Khoảng cách lớn không đồng nghĩa SJC chắc chắn phải giảm ngay.
Giá vàng trong nước còn chịu ảnh hưởng của cung - cầu vật chất, nguồn cung từng sản phẩm và chính sách niêm yết của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nếu vàng quốc tế tiếp tục đi xuống trong khi SJC đứng yên, chênh lệch sẽ càng lớn và áp lực điều chỉnh trong nước có thể tăng.
Ngược lại, nếu vàng thế giới hồi trở lại vùng 4.500 - 4.550 USD/ounce, khoảng cách có thể thu hẹp mà SJC không cần giảm nhiều.
Do đó, xu hướng quốc tế trong tuần đầu tháng 9 sẽ quyết định khá lớn tới mặt bằng giá vàng trong nước.
Dự báo giá vàng thế giới 1/9/2026
Giá hiện dao động rất hẹp quanh 4.450 USD/ounce.
Kịch bản cơ sở
Vàng có thể dao động:
4.420 - 4.500 USD/ounce.
Thị trường nhiều khả năng tiếp tục giằng co trong lúc chờ các số liệu lao động Mỹ.
Kịch bản phục hồi
Nếu vượt được:
4.470 - 4.480 USD/ounce
vàng có thể hướng lên:
4.500 - 4.520 USD/ounce.
Nếu vượt tiếp 4.520 USD, vùng:
4.550 - 4.570 USD/ounce
sẽ trở thành mục tiêu tiếp theo.
Kịch bản giảm
Nếu mất:
4.425 - 4.440 USD/ounce
giá có thể kiểm tra:
4.380 - 4.400 USD/ounce.
Nếu dữ liệu kinh tế Mỹ mạnh và lợi suất tiếp tục tăng, vùng thấp hơn 4.350 USD cũng không thể loại trừ.
Dự báo giá vàng trong nước 1/9/2026
SJC hiện ở 145,7 - 148,7 triệu đồng/lượng.
Kịch bản cơ sở
Giá có thể dao động:
145 - 149 triệu đồng/lượng.
Chiều bán nhiều khả năng tiếp tục tập trung ở vùng 148 - 149 triệu đồng nếu vàng thế giới giữ quanh 4.430 - 4.480 USD.
Nếu vàng thế giới vượt 4.500 USD
SJC có thể phục hồi lên:
149 - 150 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn cũng có khả năng tăng nhanh trở lại nếu lực mua trong nước cải thiện.
Nếu vàng thế giới mất 4.400 USD
SJC có thể chịu áp lực giảm về:
147 - 148 triệu đồng/lượng ở chiều bán.
Do mức chênh hiện gần 8 triệu đồng/lượng, dư địa điều chỉnh vẫn còn nếu quốc tế bước vào một nhịp giảm mới.
Người mua vàng cần chú ý điều gì?
Vàng trong nước đã hạ nhiệt khá nhiều so với những ngày giá nhẫn vượt 150 triệu đồng/lượng, nhưng rủi ro giao dịch ngắn hạn vẫn đáng kể.
SJC đang có chênh lệch mua - bán khoảng 3 triệu đồng/lượng.
Nhẫn PNJ khoảng 3 triệu đồng/lượng.
Nhẫn Phú Quý khoảng 3 triệu đồng/lượng.
Nhẫn DOJI khoảng 4 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu khoảng 3,6 triệu đồng/lượng.
Ngoài mức chênh mua - bán, nhà đầu tư còn phải tính tới khoảng cách gần 8 triệu đồng giữa SJC và vàng thế giới quy đổi.
Vì vậy, việc giá đã điều chỉnh không đồng nghĩa rủi ro đã giảm hoàn toàn.
Kết luận dự báo
Ngày 1/9 mở đầu tháng mới với vàng thế giới có dấu hiệu hồi phục nhưng chưa thoát khỏi sức ép từ chính sách tiền tệ Mỹ.
Vùng 4.425 - 4.450 USD đang đóng vai trò hỗ trợ gần, trong khi 4.500 - 4.520 USD là vùng kháng cự đầu tiên cần vượt qua.
Fed, lợi suất trái phiếu và báo cáo việc làm Mỹ ngày 4/9 sẽ quyết định liệu vàng có hình thành một nhịp phục hồi mới hay tiếp tục điều chỉnh.
Trong nước, SJC giữ mức 148,7 triệu đồng/lượng nhưng vẫn cao hơn giá thế giới quy đổi khoảng 7,8 triệu đồng.
Nếu vàng thế giới không thể phục hồi trong những phiên tới, áp lực điều chỉnh đối với vàng miếng và vàng nhẫn trong nước vẫn chưa kết thúc.