Giá vàng sáng 10/9/2026 xuất hiện sự phân hóa rõ giữa thị trường trong nước và quốc tế.
Trong nước, vàng miếng SJC tại TP.HCM và miền Bắc tiếp tục được niêm yết 143,6 triệu đồng/lượng mua vào và 146,6 triệu đồng/lượng bán ra, không thay đổi so với ngày 9/9.
DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu và Phú Quý cũng giữ nguyên phần lớn bảng giá. Vàng nhẫn vẫn có sự chênh lệch đáng kể giữa các thương hiệu, với giá bán dao động từ khoảng 146,5 triệu đến 148 triệu đồng/lượng.
Trái lại, vàng thế giới theo dữ liệu đầu ngày tăng lên khoảng 4.399 USD/ounce, từ 4.355 USD/ounce ngày 9/9. Mức tăng khoảng 44 USD, tương đương hơn 1%.
Reuters ghi nhận vàng tăng hơn 1% trong phiên thứ Tư, có thời điểm lên quanh 4.414 USD/ounce, nhờ đồng USD suy yếu và nhu cầu trú ẩn tăng trong bối cảnh giá dầu vượt 100 USD/thùng. Tuy nhiên, lợi suất trái phiếu Mỹ vẫn ở vùng rất cao, khiến đà tăng của vàng chưa thực sự chắc chắn.
Giá vàng SJC 10/9/2026 đứng yên
| Khu vực | Mua 10/9 | Bán 10/9 | Mua 9/9 | Bán 9/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| TP.HCM | 143,60 | 146,60 | 143,60 | 146,60 | Không đổi |
| Miền Bắc | 143,60 | 146,60 | 143,60 | 146,60 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán SJC tiếp tục ở mức 3 triệu đồng/lượng.
So với đỉnh ngắn hạn 150,6 triệu đồng/lượng ngày 26/8, giá bán hiện thấp hơn khoảng 4 triệu đồng/lượng.
Việc SJC đứng yên trong lúc vàng thế giới phục hồi hơn 1% cho thấy các doanh nghiệp trong nước vẫn khá thận trọng trước hai báo cáo lạm phát quan trọng của Mỹ trong ngày 10 và 11/9.
DOJI: Nhẫn 9999 bán 148 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm DOJI | Mua 10/9 | Bán 10/9 | So với 9/9 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 143,60 | 146,60 | Không đổi |
| Kim TT/AVPL | 144,00 | 148,00 | Không đổi |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 144,00 | 148,00 | Không đổi |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 139,00 | 141,00 | Không đổi |
| Vàng nguyên liệu 999 | 138,50 | 140,50 | Không đổi |
| Nữ trang 9999 | 143,00 | 147,00 | Không đổi |
| Nữ trang 999 | 142,50 | 146,50 | Không đổi |
| Nữ trang 99 | 140,80 | 145,50 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng vẫn bán ở 148 triệu đồng/lượng, cao hơn vàng miếng SJC cùng hệ thống 1,4 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán nhẫn ở mức 4 triệu đồng/lượng, vẫn là mức tương đối rộng đối với người giao dịch ngắn hạn.
So với mức 154 triệu đồng/lượng từng xuất hiện ngày 26/8, giá bán nhẫn DOJI hiện thấp hơn khoảng 6 triệu đồng/lượng.
PNJ: Nhẫn trơn 999.9 bán 146,5 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm PNJ | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 143,60 | 146,60 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 143,20 | 146,50 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 143,20 | 146,50 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 143,20 | 146,50 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 143,20 | 146,50 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 140,60 | 145,60 |
| Vàng nữ trang 999 | 140,45 | 145,45 |
| Vàng nữ trang 9920 | 138,24 | 144,44 |
| Vàng nữ trang 99 | 137,94 | 144,14 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Giá nhẫn trơn PNJ hiện thấp hơn vàng miếng SJC khoảng 100.000 đồng/lượng ở chiều bán.
Khoảng cách mua - bán nhẫn vào khoảng 3,3 triệu đồng/lượng, thấp hơn mức 4 triệu đồng của DOJI.
Bảo Tín Minh Châu giữ 146,6 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| BTMC SJC | 143,60 | 146,60 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu tiếp tục niêm yết ngang mặt bằng SJC phổ biến, với chênh lệch mua - bán 3 triệu đồng/lượng.
Phú Quý: Nhẫn 999.9 bán 147 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm Phú Quý | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 143,60 | 146,60 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 143,60 | 147,00 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 143,60 | 147,00 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 143,50 | 146,90 |
| Vàng trang sức 999.9 | 141,00 | 146,00 |
| Vàng trang sức 999 | 140,90 | 145,90 |
| Vàng trang sức 99 | 139,59 | 144,54 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Nhẫn Phú Quý cao hơn vàng miếng cùng hệ thống khoảng 400.000 đồng/lượng ở chiều bán.
Khoảng cách mua - bán nhẫn khoảng 3,4 triệu đồng/lượng.
Vàng thế giới phục hồi hơn 1%
| Chỉ tiêu | 10/9/2026 | 9/9/2026 |
|---|---|---|
| Giá vàng | 4.399 | 4.355 |
| Thấp nhất | 4.342 | 4.353 |
| Cao nhất | 4.434 | 4.359 |
| Thay đổi | +44 USD | |
| Tỷ lệ | khoảng +1,01% |
Đơn vị: USD/ounce.
Biên độ 4.342 - 4.434 USD cho thấy vàng vẫn biến động rất mạnh.
Reuters ghi nhận vàng tăng khoảng 1,5% lên quanh 4.417 USD/ounce trong phiên Mỹ trước khi hạ nhiệt, trong bối cảnh chỉ số USD lùi về khoảng 98,75 điểm.
Đồng USD yếu giúp vàng trở nên hấp dẫn hơn đối với người mua sử dụng các đồng tiền khác.
Tuy nhiên, đây chưa phải tín hiệu hoàn toàn tích cực bởi lợi suất trái phiếu Mỹ lại tăng mạnh.
Lợi suất Mỹ gần 4,85% vẫn là lực cản lớn
Lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm trong phiên 9/9 có thời điểm lên khoảng 4,85%, mức cao nhất kể từ tháng 11/2023.
Lợi suất cao là một trong những yếu tố bất lợi nhất đối với vàng.
Vàng không tạo ra lãi suất, trong khi trái phiếu Mỹ đang cung cấp mức lợi tức rất hấp dẫn.
Do đó, việc vàng vẫn tăng hơn 1% dù lợi suất cao cho thấy nhu cầu trú ẩn đang đóng vai trò đáng kể.
Dầu Brent vượt 100 USD hỗ trợ vàng nhưng gây bài toán khó cho Fed
Giá dầu đang trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với thị trường vàng.
Brent kết thúc phiên 9/9 ở 101,21 USD/thùng, tăng 3,4%, sau khi có thời điểm đạt 101,58 USD. WTI tăng lên 96,05 USD/thùng.
Nguyên nhân là căng thẳng Mỹ - Iran tiếp tục leo thang, với các vụ tấn công vào tàu chở dầu gần eo biển Hormuz.
Iran cho biết đã tấn công 10 tàu, trong khi Mỹ đánh chìm năm tàu chở dầu Iran. Đây là đợt tấn công hàng hải lớn nhất kể từ khi cuộc chiến bắt đầu.
Đối với vàng, dầu trên 100 USD tạo hai lực tác động trái chiều.
Căng thẳng địa chính trị thúc đẩy nhu cầu trú ẩn.
Nhưng giá năng lượng cao đồng thời làm tăng nguy cơ lạm phát, khiến Fed có thêm lý do duy trì hoặc nâng lãi suất.
Eo biển Hormuz tiếp tục là rủi ro lớn
Dòng vận chuyển năng lượng qua eo biển Hormuz vẫn ở mức thấp.
Dữ liệu Kpler cho thấy chỉ sáu tàu hàng hóa đi qua trong ngày gần nhất, thấp hơn mức trung bình 10 ngày khoảng 12 tàu.
Một phân tích khác cho thấy lượng dầu xuất khẩu từ khu vực Vịnh vẫn thấp hơn khoảng một phần ba so với mức bình thường, dù nhiều tàu đang tắt thiết bị định vị để thực hiện các chuyến đi khó theo dõi.
Nếu tình trạng này kéo dài, giá dầu có thể duy trì vùng cao, tạo áp lực lạm phát dai dẳng.
Đây vừa là yếu tố hỗ trợ nhu cầu vàng trú ẩn, vừa làm tăng rủi ro Fed phải tiếp tục thắt chặt.
Tối nay 10/9: PPI Mỹ là phép thử đầu tiên
Theo lịch chính thức của Cục Thống kê Lao động Mỹ, chỉ số giá sản xuất PPI tháng 8 sẽ được công bố lúc 8h30 sáng giờ miền Đông ngày 10/9, tương đương khoảng 19h30 giờ Việt Nam.
PPI đo lường biến động giá ở cấp độ nhà sản xuất và thường được xem là một chỉ báo sớm về áp lực lạm phát.
Nếu PPI cao hơn kỳ vọng, thị trường có thể tăng đặt cược Fed nâng lãi suất.
Khi đó USD và lợi suất trái phiếu có khả năng tăng, gây sức ép trở lại lên vàng.
Nếu PPI thấp hơn dự báo, vàng có thể nhận thêm động lực để vượt vùng 4.430 - 4.450 USD.
CPI Mỹ ngày 11/9 mới là dữ liệu quyết định
Báo cáo CPI tháng 8 được công bố vào ngày 11/9 lúc 8h30 giờ miền Đông, tức khoảng 19h30 giờ Việt Nam.
Dữ liệu tháng 7 cho thấy CPI Mỹ tăng 3,4% so với cùng kỳ và CPI lõi tăng 2,5%.
Một số dự báo hiện cho rằng CPI toàn phần tháng 8 có thể tiếp tục quanh 3,4%, trong khi CPI lõi có khả năng hạ nhẹ.
Tuy nhiên, giá dầu tăng mạnh trong những tuần gần đây khiến rủi ro lạm phát cao hơn dự báo không thể bỏ qua.
Fed đang chia thành hai kịch bản gần như cân bằng
Thị trường tài chính đang định giá khoảng 60% khả năng Fed nâng lãi suất tại cuộc họp tuần tới.
Nhưng khảo sát các nhà kinh tế Reuters lại cho kết quả khác.
Khoảng 70% chuyên gia được hỏi cho rằng Fed sẽ giữ nguyên lãi suất trong cuộc họp ngày 15-16/9 và có thể duy trì mức 3,50 - 3,75% đến hết năm.
Sự khác biệt giữa thị trường và giới kinh tế cho thấy mức độ bất định hiện rất cao.
CPI ngày 11/9 có khả năng trở thành dữ liệu quyết định bên nào đúng.
Vàng thế giới quy đổi khoảng 138,4 triệu đồng/lượng
Ở thời điểm rất sớm ngày 10/9, Vietcombank chưa cập nhật bảng tỷ giá mới trong dữ liệu tìm kiếm. Mức gần nhất ngày 9/9 là:
25.680 đồng/USD mua tiền mặt;
25.710 đồng/USD mua chuyển khoản;
26.090 đồng/USD bán ra.
Sử dụng giá bán USD 26.090 đồng và giá vàng thế giới 4.399 USD/ounce:
4.399 × 26.090 × 37,5 / 31,1034768
tương đương khoảng:
138,37 triệu đồng/lượng.
Mức này chưa tính thuế, phí, chi phí gia công và các chi phí kinh doanh khác.
Trong khi đó SJC đang bán:
146,6 triệu đồng/lượng.
Như vậy, mức chênh tham khảo là:
8,23 triệu đồng/lượng.
Có thể làm tròn:
khoảng 8,2 triệu đồng/lượng.
Vì sao chênh lệch SJC - thế giới lại tăng?
Giá SJC không thay đổi từ ngày 9/9 sang 10/9.
Trong khi đó, vàng thế giới đã tăng khoảng 44 USD/ounce.
Về lý thuyết, điều này phải làm chênh lệch thu hẹp.
Tuy nhiên, mức SJC 146,6 triệu đồng vẫn cao hơn đáng kể giá thế giới quy đổi khoảng 138,4 triệu đồng.
Khoảng cách hơn 8 triệu đồng/lượng cho thấy thị trường trong nước vẫn có mức premium tương đối lớn.
Nếu vàng quốc tế tiếp tục tăng mà SJC đứng yên, chênh lệch có thể thu hẹp.
Ngược lại, nếu PPI hoặc CPI khiến vàng thế giới quay đầu giảm mạnh, áp lực điều chỉnh đối với giá trong nước có thể quay trở lại.
Dự báo giá vàng thế giới 10/9/2026
Mốc tâm lý quan trọng nhất hiện là 4.400 USD/ounce.
Kịch bản cơ sở
Vàng có thể dao động:
4.350 - 4.450 USD/ounce.
Thị trường nhiều khả năng giằng co trước PPI tối nay.
Kịch bản tăng
Nếu PPI thấp hơn kỳ vọng và vàng vượt:
4.430 - 4.450 USD,
giá có thể tiến tới:
4.470 - 4.500 USD/ounce.
Nếu CPI ngày 11/9 cũng hạ nhiệt, khả năng vượt 4.500 USD sẽ tăng.
Kịch bản giảm
Nếu PPI nóng hơn dự báo và vàng mất:
4.380 USD,
giá có thể quay lại:
4.340 - 4.360 USD/ounce.
Nếu vùng này không giữ được, mốc 4.300 USD có thể trở thành mục tiêu tiếp theo.
Dự báo giá vàng trong nước 10/9/2026
SJC hiện ở 143,6 - 146,6 triệu đồng/lượng.
Kịch bản cơ sở
Giá có thể dao động:
143 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Trong phần lớn thời gian trước PPI, giá bán nhiều khả năng vẫn ở vùng:
146 - 147 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới vượt 4.450 USD
SJC có thể phục hồi:
147 - 148 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn cũng có thể phản ứng nhanh hơn.
Nếu vàng thế giới giảm dưới 4.350 USD
Giá bán SJC có khả năng lùi về:
145 - 146 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách hơn 8 triệu đồng với thế giới vẫn tạo dư địa điều chỉnh nếu vàng quốc tế giảm mạnh.
Giá vàng nhẫn đang chênh lệch thế nào?
Giá bán sáng 10/9:
DOJI nhẫn 9999: 148 triệu đồng/lượng.
Phú Quý nhẫn 999.9: 147 triệu đồng/lượng.
PNJ nhẫn 999.9: 146,5 triệu đồng/lượng.
Như vậy, giá nhẫn DOJI đang cao hơn PNJ khoảng:
1,5 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán cũng khác nhau đáng kể.
DOJI khoảng 4 triệu đồng/lượng.
PNJ khoảng 3,3 triệu đồng/lượng.
Phú Quý khoảng 3,4 triệu đồng/lượng.
Vì vậy, người mua vàng nhẫn cần so sánh cả giá bán lẫn giá doanh nghiệp mua lại.
Có nên mua vàng trước PPI và CPI Mỹ?
Hai ngày 10 và 11/9 là giai đoạn có rủi ro biến động đặc biệt cao.
PPI được công bố tối 10/9.
CPI được công bố tối 11/9.
Fed họp ngày 15-16/9.
Như vậy chỉ trong vòng chưa đầy một tuần, thị trường sẽ nhận đủ dữ liệu để quyết định liệu Mỹ có tăng lãi suất hay không.
Trong hoàn cảnh đó, việc mua vàng với mục tiêu giao dịch ngắn hạn cần tính tới cả chênh lệch mua - bán khoảng 3 - 4 triệu đồng/lượng và mức chênh hơn 8 triệu đồng giữa SJC với vàng quốc tế quy đổi.
Rủi ro mua đuổi trước dữ liệu lạm phát vì vậy vẫn tương đối lớn.
Kết luận dự báo
Giá vàng sáng 10/9 đang đứng trước một thời điểm quan trọng.
Vàng quốc tế đã phục hồi lên khoảng 4.399 USD/ounce sau khi USD suy yếu, nhu cầu trú ẩn tăng và căng thẳng Trung Đông đẩy dầu Brent vượt 100 USD/thùng.
Tuy nhiên, lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 10 năm vẫn quanh vùng cao nhất gần ba năm, còn thị trường đang đặt khoảng 60% khả năng Fed tăng lãi suất.
Vì vậy, đà hồi của vàng chưa thực sự chắc chắn.
Mốc 4.400 USD đang là vùng cân bằng quan trọng.
Nếu PPI tối 10/9 thấp hơn kỳ vọng, vàng có thể thử thách 4.450 - 4.500 USD.
Nếu PPI nóng, giá có nguy cơ quay xuống 4.340 - 4.360 USD.
Trong nước, SJC giữ ở 146,6 triệu đồng/lượng và đang cao hơn vàng thế giới quy đổi khoảng 8,2 triệu đồng/lượng.
Tâm điểm sau PPI sẽ là CPI ngày 11/9. Đây nhiều khả năng là dữ liệu cuối cùng có sức nặng đủ lớn để thay đổi kỳ vọng trước cuộc họp Fed ngày 15-16/9.