Để sản phẩm làng nghề rộng đường xuất ngoại

Chưa có chiến lược marketing rõ ràng, thiếu thông tin thị trường, không chú trọng xây dựng thương hiệu… là những trở ngại khiến sản phẩm làng nghề của Việt Nam chật vật tiếp cận thị trường quốc tế.

Nhiều dư địa khai thác

Thị trường thủ công mỹ nghệ (TCMN) toàn cầu được định giá 1,007 tỷ USD vào năm 2023, hướng đến con số 1,107 tỷ USD vào năm 2024 và 2,394 tỷ USD vào năm 2032. Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng xuất khẩu các sản phẩm TCMN nhờ sự đa dạng ngành nghề và giàu tài nguyên. Trong nhiều năm gần đây, hàng TCMN luôn nằm trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn nhất của Việt Nam, với rất nhiều sản phẩm đa dạng, có giá trị gia tăng cao, biên độ lợi nhuận lớn hơn so với nhiều mặt hàng xuất khẩu khác.

Làng nghề truyền thống hương thôn Cao (Bảo Khê, Hưng Yên).
Làng nghề truyền thống hương thôn Cao (Bảo Khê, Hưng Yên).

Phát triển ngành hàng TCMN là hướng đi đúng đắn trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu. Việc thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) như: EVFTA, CPTPP, RCEP… đang mở ra rất nhiều cơ hội xuất khẩu cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đến nay, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm gần 10% nhu cầu của thị trường toàn cầu. Kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN Việt Nam giai đoạn 2015-2019 tăng trung bình 9,5%/năm, từ 1,62 tỉ USD (2015) lên đến 2,23 tỉ USD (2019), phấn đấu đạt 4 tỉ USD vào năm 2025.

Phó Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam Tôn Gia Hóa cho biết, hiện nay, Việt Nam có hơn 5.400 làng nghề và làng nghề truyền thống với nhiều mô hình sản phẩm khác nhau, như: mây tre đan, gốm sứ, thêu dệt, đúc đồng, chạm khắc gỗ, trang sức, đá quý... Doanh thu của các làng nghề này rơi vào khoảng 75 nghìn tỷ đồng. Quy mô thị trường thủ công mỹ nghệ Việt Nam được dự đoán sẽ có tốc độ tăng trưởng vào khoảng 8,7% trong giai đoạn 2024 - 2032. Đây là con số thấp hơn mức tăng trưởng ngành toàn cầu, cho thấy ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam còn sơ khai và nhiều dư địa phát triển.

Chia sẻ về những khó khăn hiện tại của làng nghề Việt Nam, TS Tôn Gia Hóa cho biết, các ngành nghề TCMN chưa được xây dựng theo quy trình bài bản, gây khó khăn cho việc bảo vệ, phát triển thương hiệu. Giá trị các thương hiệu chưa đảm bảo cho việc tiếp cận các thị trường khó tính ở nước ngoài, từ đó giá thành sản phẩm không thể nâng cao.

Còn theo Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại Đào tạo Phát triển Làng nghề Việt Nam Cao Bích Thủy, các làng nghề TCMN Việt Nam hiện tại vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường quốc tế. Một số vấn đề chính bao gồm, chưa có chiến lược marketing rõ ràng, nhiều cơ sở sản xuất vẫn dựa vào phương thức truyền thống và chưa áp dụng các công cụ marketing hiện đại.

Thiếu thông tin thị trường, các nhà sản xuất thường không nắm rõ nhu cầu và xu hướng của thị trường quốc tế. Khó khăn trong việc xây dựng thương hiệu, nhiều sản phẩm chưa được định danh thương hiệu, dẫn đến sự cạnh tranh không hiệu quả.

Ứng dụng công nghệ vào sản xuất, xây dựng thương hiệu

Để phát triển bền vững ngành hàng TCMN trong giai đoạn hiện nay và rộng đường xuất khẩu, TS Tôn Gia Hóa cho rằng, chúng ta cần nhiều nhóm giải pháp về các mặt kinh tế - xã hội, môi trường và thể chế. Tổ chức thực hiện, hoàn thành các mục tiêu cụ thể theo Quyết định 801/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam đến 2030. Cần hoàn thiện công tác quy hoạch tổng thể phát triển ngành, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong thiết kế mẫu mã và sản xuất, tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng mạng lưới tiêu thụ, xuất khẩu và nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của các hiệp hội.

Gian trưng bày sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam.
Gian trưng bày sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam.

Cùng với đó, hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn Quốc gia đáp ứng hợp chuẩn quốc tế, tuyên truyền, giáo dục, kết hợp kiểm tra, thanh tra, giám sát, hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường sinh thái. Về thể chế, cần hoàn thiện cơ sở pháp lý, chính sách phát triển và hỗ trợ ngành hàng phát triển một cách bền vững. Đa dạng hóa sản phẩm, tăng cường hợp chuẩn quốc tế. Đặc biệt, cần đặc biệt chú trọng vào thương hiệu, chiến lược cạnh tranh bằng thương hiệu đang diễn ra rất mạnh mẽ và sâu rộng, không chỉ dừng lại ở cấp độ doanh nghiệp mà đã phát triển lên mức độ địa phương, ngành hàng và cấp quốc gia.

Theo Giám đốc Sở Công thương tỉnh Hưng Yên Trần Văn Cường, các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng TCMN cần tập trung nghiên cứu thị trường quốc tế nhằm phát hiện ra nhu cầu từ đó có thể đưa ra những quyết định chính xác về thị trường. Đẩy mạnh việc giới thiệu sản phẩm dưới nhiều hình thức, quảng cáo, chào hàng qua mạng, tham dự các hội chợ triển lãm. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các nhóm mặt hàng có lợi thế, gia tăng giá trị sản phẩm cho nhóm hàng này. Đặc biệt quan tâm đến thị hiếu của người tiêu dùng thường thay đổi theo thời gian. Đây là giải pháp vô cùng quan trọng để tăng kim ngạch và xuất khẩu bền vững.

Cần đặc biệt chú trọng vào thương hiệu, chiến lược cạnh tranh bằng thương hiệu đang diễn ra rất mạnh mẽ và sâu rộng, không chỉ dừng lại ở cấp độ doanh nghiệp mà đã phát triển lên mức độ địa phương, ngành hàng và cấp Quốc gia. Vì vậy, bên cạnh việc xây dựng thương hiệu, các hoạt động bảo vệ thương hiệu, gìn giữ tài sản sở hữu trí tuệ cũng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Cùng chung quan điểm, Viện trưởng Viện nghiên cứu ứng dụng mỹ thuật sản phẩm làng nghề Việt Nam Nguyễn Thị Tòng cho rằng, các làng nghề cần đầu tư vào việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình. Điều này không chỉ giúp tăng giá trị sản phẩm mà còn tạo sự nhận diện mạnh mẽ trên thị trường quốc tế. Cùng với đó, sử dụng các nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội để quảng bá sản phẩm và tiếp cận khách hàng toàn cầu. Việc này giúp giảm chi phí và mở rộng thị trường một cách hiệu quả...

Theo kinhtedothi.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Công ty Điện lực Lào Cai xây dựng phương án đảm bảo cung cấp điện phục vụ Diễn tập phòng thủ dân sự năm 2026

Công ty Điện lực Lào Cai xây dựng phương án đảm bảo cung cấp điện phục vụ Diễn tập phòng thủ dân sự năm 2026

Nhằm bảo đảm nguồn điện an toàn, ổn định, liên tục phục vụ Diễn tập phòng thủ dân sự, ứng phó lũ ống, lũ quét, sạt lở đất trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2026, Công ty Điện lực Lào Cai đã xây dựng phương án cấp điện chi tiết cho toàn bộ khu vực diễn tập và các địa điểm phục vụ công tác chỉ huy, hậu cần.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh làm việc với một số xã về giải ngân vốn đầu tư công và thu ngân sách

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh làm việc với một số xã về giải ngân vốn đầu tư công và thu ngân sách

Sáng 13/5, tiếp tục chương trình công tác tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án đầu tư công, thu ngân sách và lập quy hoạch xây dựng, Đoàn công tác của tỉnh do đồng chí Nguyễn Thành Sinh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với lãnh đạo chủ chốt các xã: Quy Mông, Trấn Yên, Lương Thịnh, Việt Hồng và Hưng Khánh.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh kiểm tra tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, công tác thu ngân sách tại xã Quy Mông và Trấn Yên

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh kiểm tra tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, công tác thu ngân sách tại xã Quy Mông và Trấn Yên

Ngày 13/5, Đoàn kiểm tra số 4 của UBND tỉnh do đồng chí Nguyễn Thành Sinh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng đoàn đã tiến hành kiểm tra tiến độ giải ngân các dự án đầu tư công, công tác thu ngân sách và việc lập quy hoạch xây dựng trên địa bàn xã Quy Mông và xã Trấn Yên.

“Cánh tay nối dài” bảo vệ lá phổi xanh

“Cánh tay nối dài” bảo vệ lá phổi xanh

Lào Cai hiện có hơn 860.000 ha đất có rừng, tỷ lệ che phủ đạt 61,5%. Những cánh rừng không chỉ là “lá phổi xanh” điều hòa khí hậu, giữ nguồn nước, chống xói mòn, mà còn là nguồn sinh kế quan trọng của đồng bào vùng cao. Tuy nhiên, để giữ được màu xanh ấy trước nguy cơ cháy rừng, phát nương hay khai thác lâm sản trái phép chưa bao giờ là nhiệm vụ dễ dàng.

Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh làm việc tại các xã: Yên Bình, Thác Bà, Cảm Nhân, Yên Thành, Bảo Ái

Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh làm việc tại các xã: Yên Bình, Thác Bà, Cảm Nhân, Yên Thành, Bảo Ái

Tiếp tục chương trình công tác, chiều 12/5, đồng chí Nguyễn Thành Sinh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cùng Đoàn công tác đã có buổi làm việc với lãnh đạo chủ chốt các xã: Yên Bình, Thác Bà, Cảm Nhân, Yên Thành và Bảo Ái để tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án đầu tư công, thu ngân sách và lập quy hoạch xây dựng trên địa bàn các địa phương.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh kiểm tra tiến độ giải ngân, lập quy hoạch tại xã Yên Bình và Thác Bà

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh kiểm tra tiến độ giải ngân, lập quy hoạch tại xã Yên Bình và Thác Bà

Sáng 12/5, Đoàn công tác của tỉnh do đồng chí Nguyễn Thành Sinh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng đoàn đã đi kiểm tra, đôn đốc tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án đầu tư công, thu ngân sách và công tác lập quy hoạch xây dựng trên địa bàn xã Yên Bình và xã Thác Bà.

Lào Cai: Chủ động bình ổn thị trường, giữ đà tăng trưởng

Lào Cai: Chủ động bình ổn thị trường, giữ đà tăng trưởng

Thời gian qua, tình hình chính trị thế giới có nhiều diễn biến phức tạp tác động trực tiếp đến thị trường năng lượng. Tỉnh Lào Cai đã thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giữ vững đà tăng trưởng kinh tế. Nhờ sự chủ động trong công tác điều hành, dự báo và kích cầu tiêu dùng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng những tháng đầu năm đã đạt kết quả khả quan, không xảy ra đầu cơ, găm hàng hay tăng giá bất hợp lý.

Sở Tài chính kiểm tra việc sắp xếp, xử lý tài sản công sau sáp nhập tại các địa phương

Sở Tài chính kiểm tra việc sắp xếp, xử lý tài sản công sau sáp nhập tại các địa phương

Trong ngày 12/5, các Tổ công tác của Sở Tài chính tỉnh Lào Cai đã thực hiện kiểm tra, làm việc với UBND các xã Bản Liền, Lục Yên, Tân Lĩnh, Mường Lai và Lâm Thượng về thực hiện rà soát, hướng dẫn, đôn đốc việc xử lý tài sản là cơ sở nhà, đất sau sắp xếp đơn vị hành chính.

Lào Cai quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết 46

Lào Cai quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết 46

Chiến lược phát triển của địa phương miền núi, nơi địa hình chia cắt và thiên tai thường xuyên hiện hữu, giao thông không chỉ là hạ tầng mà đó là “mạch sống”. Nhận thức sâu sắc điều này, tỉnh Lào Cai đã ban hành Nghị quyết 46-NQ/TU, khẳng định quyết tâm tạo đột phá về kết cấu hạ tầng, mở đường cho phát triển bền vững.

Gỡ khó cho cây sơn tra Nậm Có

Gỡ khó cho cây sơn tra Nậm Có

Từng là loài cây mọc tự nhiên trên núi cao, sơn tra nay đang trở thành cây kinh tế giúp nhiều hộ dân xã Nậm Có cải thiện thu nhập, giữ đất, giữ rừng và ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, để “vàng xanh” vùng cao phát huy hết giá trị, địa phương vẫn đang đối mặt với bài toán đầu ra, liên kết tiêu thụ và chế biến sản phẩm.

Giải ngân vốn đầu tư công: Quyết tâm từ chỉ đạo đến hành động

Giải ngân vốn đầu tư công: Quyết tâm từ chỉ đạo đến hành động

Năm 2026, Lào Cai bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển với kế hoạch vốn đầu tư công lên tới hơn 11.395 tỷ đồng, bao gồm nhiều nguồn vốn khác nhau. Khối lượng vốn lớn đi kèm với yêu cầu giải ngân đạt 100% đã đặt ra áp lực không nhỏ đối với công tác điều hành, tổ chức thực hiện và kiểm soát tiến độ các dự án. Trong bối cảnh đó, việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của toàn tỉnh.

An toàn lao động trong hoạt động khai thác khoáng sản

An toàn lao động trong hoạt động khai thác khoáng sản

Những năm gần đây, hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản đóng vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp của tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, phía sau sự tăng trưởng là áp lực lớn về an toàn lao động trong môi trường làm việc đặc thù. Thực tế đã cho thấy, chỉ một sai sót nhỏ, một quy trình bị bỏ qua hay một thiết bị xuống cấp không được thay thế kịp thời cũng có thể dẫn đến hậu quả khôn lường.

Khi rừng trở thành tài sản chung của cộng đồng vùng cao

Khi rừng trở thành tài sản chung của cộng đồng vùng cao

Những năm gần đây, tại nhiều địa phương vùng cao, nhận thức của người dân về vai trò, giá trị của rừng đã có nhiều chuyển biến tích cực. Từ chỗ từng coi rừng là nguồn tài nguyên sẵn có để khai thác, người dân nay dần xem rừng là tài sản chung cần được gìn giữ, bảo vệ. Khi quyền lợi gắn liền với trách nhiệm, cộng đồng ngày càng chủ động hơn trong việc giữ màu xanh cho những cánh rừng.

fb yt zl tw