Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu và 200 năm “chở bao nhiêu đạo”

Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu được UNESCO tôn vinh, trở thành một sự kiện lớn trong đời sống văn hóa Việt Nam. 

200 năm đã trôi qua, tinh thần “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” của Nguyễn Đình Chiểu vẫn tiếp tục được lưu truyền, gìn giữ và phát huy trong ngày nay. Năm nay, tỉnh Bến Tre đã tổ chức kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu với nhiều hoạt động có ý nghĩa. 

1. Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu được UNESCO ghi nhận “nhà văn hóa, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, là một tấm gương vượt qua nghịch cảnh và theo đuổi lý tưởng học tập suốt đời”. Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 1-7-1822 (tức ngày 13-5 năm Nhâm Ngọ), tại làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc phường Cầu Kho, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh).

Năm 1846, Nguyễn Đình Chiểu ra Huế học để chờ khoa thi Kỷ Dậu vào 3 năm sau. Năm 1848, nghe tin mẹ mất, ông quay về chịu tang. Thế nhưng, trên đường đi, vì thương khóc mẹ Nguyễn Đình Chiểu bệnh nặng, bị di chứng mù đôi mắt: “Hai hàng nước mắt nhỏ sa/ Trời Nam đất Bắc xót xa đoạn trường/ Anh em ai nấy đều thương/ Trời ơi, sao nỡ lấp đường công danh”. 

Sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu mở trường dạy học và bốc thuốc chữa bệnh “Tưởng đâu đạo thuốc thâm u/ Hay đâu y cũng trong nho một nghề”, được người dân xưng tụng Đồ Chiểu. Đây là giai đoạn ông sáng tác truyện thơ “Lục Vân Tiên” với 2.082 câu lục bát, gửi gắm nhiều tâm sự cá nhân. Kính phục và cảm thông với người thầy tài hoa xấu số, một học trò của Nguyễn Đình Chiểu là Lê Tăng Quýnh ở Cần Giuộc đã gả em gái Lê Thị Điền cho ân sư vào năm 1854.

Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu & 200 năm “chở bao nhiêu đạo” ảnh 1

Hình tượng danh nhân Nguyễn Đình Chiểu trong vở kịch “Trái tim và đôi mắt”.

Năm 1859, sau khi giặc Pháp đánh chiếm thành Gia Định “Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy/ Mất ổ đàn chim dáo dác bay”, Nguyễn Đình Chiểu về quê vợ ẩn cư, viết 2 tác phẩm tiêu biểu “Dương Từ - Hà Mậu” và “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Là một trong những người khởi xướng phong trào “tị địa” bất hợp tác và không sống trong vùng đất Pháp chiếm, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia quyến lui xuống Ba Tri, Bến Tre từ năm 1862, viết tác phẩm tiêu biểu “Ngư tiều y thuật vấn đáp”.

Năm 1886, người vợ Lê Thị Điền mất, sức khỏe của Nguyễn Đình Chiểu ngày càng sa sút. Ngày 3-7-1888, Nguyễn Đình Chiểu qua đời trong một căn nhà nhỏ tại làng An Bình Đông (thuộc trị trấn Ba Tri ngày nay) để lại cho hậu thế một biểu tượng đẹp đẽ “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt/ Lòng đạo xin tròn một tấm gương”.

2. Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu chỉ sống 66 năm trên dương gian, đã viết được những câu chuyện xúc động và cao thượng về thái độ sống: “Thà đui mà giữ đạo nhà/ Còn hơn có mắt ông cha không thờ/ Thà đui mà khỏi danh nhơ/ Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình/ Thà đui mà đặng trọn mình/ Còn hơn có mắt đổi hình tóc râu”.

Chứng kiến cảnh quê hương bị ngoại xâm giày xéo, Nguyễn Đình Chiểu bày tỏ tình cảm yêu nước qua những dòng phẫn uất che chở những thân phận thấp bé: “Đau đớn thay! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều/ Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”.

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu không nhằm ngâm vịnh, không nhằm nắn câu vuốt chữ. Ông quan niệm “văn dĩ tải đạo” một cách bền bỉ “Mến nghĩa sao đành làm phản nước/ Có nhân nào nỡ phụ tình nhà”. Dù thực dân Pháp tìm mọi chiêu trò lôi kéo và mua chuộc nhưng ông vẫn kiên định “Nước trong rửa ruột sạch trơn/ Một câu danh lợi chi sờn lòng đây”.

Cho nên, không phải ngẫu nhiên nhà thơ Xuân Diệu (1916-1985) cho rằng văn chương Nguyễn Đình Chiểu là “một món quà mà Nam bộ đã cho Tổ quốc, bởi đó là của quý, do miền Nam sản xuất, có một hương vị rất là miền Nam, mà vì vậy nên rất Việt Nam”.

Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu được các thế hệ sau quan tâm sâu sắc ở 3 lĩnh vực: văn chương, sư phạm và y tế. Văn chương của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ truyền tải rõ nét suy tư của ông về sư phạm “Gặp thuở mây xanh siêng đọc sách/ Mỗi câu đều hưởng phúc trời cho” mà còn khắc họa nghề thầy thuốc đầy đủ và nghiêm khắc qua tác phẩm “Ngư tiều y thuật vấn đáp”.

Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu & 200 năm “chở bao nhiêu đạo” ảnh 2

Phần mộ Nguyễn Đình Chiểu và vợ - Lê Thị Điền tại Ba Tri, Bến Tre.

Kinh nghiệm chữa bệnh cho bá tánh được Nguyễn Đình Chiểu đúc kết “Người biết được chỗ cốt yếu thì một câu là xong/ Người không biết chỗ cốt yếu thì man mác vô cùng”. Vì vậy, ông đưa ra tiêu chí cẩn trọng “Vọng là xem sắc người đau/ Văn là nghe tiếng nói màu thấp cao/ Vấn là hội chứng làm sao/ Thiết là coi mạch bộ nào thực hư”.

Đồ Chiểu cho rằng, “chữa bản” là chữa thẳng vào bệnh, “nên bổ” là chữa bệnh chủ yếu về dinh dưỡng, “nên trước nên sau” là bệnh nào gấp hơn thì chữa trước nhưng phải tùy nghi, vì chẩn trị sai lệch một chút thì sẽ ảnh hưởng đến tính mạng con người “Cho hay chỗ diệu hóa công/ Trong động có tĩnh, hết cùng lại thông”.

Có thể khẳng định, “Ngư tiều y thuật vấn đáp” là một trong số rất ít ỏi sách y được viết dưới dạng vần điệu mạch lạc và thuyết phục. Nguyễn Đình Chỉ chỉ ra căn nguyên cốt lõi của bệnh tật chính là lòng tham lam quá độ “Tai tham tiếng nhạc, mắt giành gái xinh/ Mũi thời tham vị hương hinh/ Miệng thời tham béo, ngọt, thanh, rượu, trà”. Cho nên, cách bảo vệ sức khỏe tốt nhất là sự tiết chế “Muốn cho thần sáng, tinh ròng/ Giữ nuôi khí huyết, ngăn lòng dục sâu”.

Đến nay, “Ngư tiều y thuật vấn đáp” vẫn còn nguyên vẹn những giá trị đạo đức của người thầy thuốc. Nguyễn Đình Chiểu đề cao trách nhiệm của người thầy thuốc “Thấy người đau giống mình đau/ Phương nào cứu đặng mau mau trị lành”. Ông nhắc nhở thầy thuốc không được phân biệt bệnh nhân sang hèn “Đứa ăn mày cũng trời sinh/ Bệnh còn cứu đặng thuốc dành cho không”.

Bằng trái tim từ mẫu “Líu lo chim hót trên cành/ Như tuồng kể mách tình hình dân đau”, ông khái quát lên triết lý nhân văn cho người Việt hướng về nhau bằng sự yêu thương trìu mến “Ai ai cũng vốn đồng bào/ Sanh trong trời đất lẽ nào ghét nhau”.

200 năm, và sẽ còn lâu hơn nữa, người Việt sẽ còn bái vọng và tri ân danh nhân Nguyễn Đình Chiểu. Con người Nguyễn Đình Chiểu không phải sống tùy thời theo lục bình trôi theo dòng nước khi lớn khi ròng, mà từ đầu chí cuối đứng sừng sững như cây dừa, rễ ăn sâu, thân đứng thẳng, đương đầu bất khuất với thời cuộc mỗi lúc mỗi thêm bi đát, giữ được đến cuối cùng cái chính khí bản nhiên, cái ý chí quang phục, cái nhân cách Việt Nam.

Vừa bằng cuộc đời, vừa bằng văn thơ, Nguyễn Đình Chiểu để lại cho chúng ta một đạo làm người nhất quán yêu nước thương dân, trọng nghĩa khinh tài, trong sạch bất khuất, được đồng bào quý mến, còn kẻ thù thì kính nể. 

Báo Sài gòn giải phóng

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Tưng bừng Ngày hội Văn hóa dân tộc Dao tuyển xã Trịnh Tường

Tưng bừng Ngày hội Văn hóa dân tộc Dao tuyển xã Trịnh Tường

Ngày 18/2 (mùng 2 Tết Bính Ngọ), tại thôn Ná Lùng, xã Trịnh Tường đã diễn ra Ngày hội Văn hóa dân tộc Dao tuyển nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026. Đây là lần đầu tiên địa phương tổ chức ngày hội với quy cấp thôn, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong những ngày đầu năm mới.

Tết Nguyên đán 2026: Ý nghĩa Lễ hóa vàng ngày Tết

Tết Nguyên đán 2026: Ý nghĩa Lễ hóa vàng ngày Tết

Lễ cúng hóa vàng là nghi thức không thể thiếu trong dịp Tết của các gia đình Việt, mang ý nghĩa tiễn đưa các cụ về cõi âm, thể hiện lòng tôn kính, biết ơn Tổ tiên luôn che chở, phù hộ cho con cháu. Ngoài ra, việc hóa vàng còn mang ý nghĩa đón thần tài, thần lộc về cho gia đình.

Ngựa thiêng trong tranh thờ người Dao

Ngựa thiêng trong tranh thờ người Dao

Trong không gian thờ tự của người Dao ở Lào Cai, bộ tranh thờ không chỉ là tác phẩm hội họa dân gian, mà còn hàm chứa tri thức, tín ngưỡng và lịch sử của cộng đồng. Trong đó, hình tượng ngựa vừa là vật nuôi quen thuộc, vừa là linh vật thiêng, gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người Dao qua nhiều thế hệ.

Đi lễ đầu năm - nét đẹp văn hóa của người Việt

Đi lễ đầu năm - nét đẹp văn hóa của người Việt

Trong không khí rộn ràng của mùa xuân, đi lễ chùa đầu năm đã trở thành nét đẹp văn hóa tâm linh lâu đời của người Việt, phản ánh sinh hoạt tín ngưỡng và đời sống tinh thần của đông đảo người dân. Mỗi độ xuân về, người dân từ khắp mọi miền đất nước lại nô nức tới đền, chùa dâng lễ, thắp hương, thành tâm cầu mong một năm mới bình an, hạnh phúc và may mắn.

Khát vọng bay giữa trời xuân

Khát vọng bay giữa trời xuân

Với đồng bào người Tày, người Dao ở Lào Cai, ném còn là trò chơi dân gian không thể thiếu trong dịp Tết đến, Xuân về. Ẩn trong những quả còn là giá trị nhân văn, mơ ước, khát khao năm mới có cuộc sống đủ đầy, ấm no.

Khát vọng giữ gìn bản sắc

Khát vọng giữ gìn bản sắc

Trên địa bàn xã Hợp Thành có nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào Tày cư trú lâu đời tại các thôn Tượng 1, Tượng 3, Cáng 1, Cáng 2… Thời gian qua, UBND xã đã tuyên truyền, vận động các nghệ nhân và những người tâm huyết với văn hóa, văn nghệ thành lập Câu lạc bộ Bản sắc văn hóa dân tộc Tày xã Hợp Thành, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của dân tộc.

Nét đẹp áo dài ngày xuân

Nét đẹp áo dài ngày xuân

Những ngày Tết, trên khắp các nẻo đường du xuân, trong không gian linh thiêng của đền chùa hay giữa nhịp sống rộn ràng nơi phố thị, chúng ta đều dễ dàng bắt gặp những tà áo dài truyền thống mềm mại, duyên dáng. Không chỉ tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, áo dài còn góp phần gìn giữ giá trị văn hóa, làm đẹp cho ngày xuân.

Ngựa trong nhạc Việt

Ngựa trong nhạc Việt

Từ tân nhạc tiền chiến đến nhạc trẻ, từ khúc hùng ca, tình ca đến thiếu nhi, hình tượng ngựa đã rong ruổi qua nhiều thế hệ sáng tác, trở thành biểu tượng đa nghĩa về tự do, thân phận và khát vọng trong âm nhạc Việt Nam.

Linh vật ngựa trong văn hóa Việt - biểu tượng của sức mạnh ý chí bền bỉ và thành công

Linh vật ngựa trong văn hóa Việt - biểu tượng của sức mạnh ý chí bền bỉ và thành công

Trong văn hóa và tâm thức người Việt, ngựa được coi là biểu tượng của sức mạnh, lòng trung thành, ý chí bền bỉ và tinh thần tiến bước không ngừng. Ngựa không chỉ đại diện cho chuyển động, mà còn hàm chứa niềm tin rằng mọi thành tựu đều bắt đầu từ sự dấn thân và được khẳng định qua thử thách.

Đi lễ đầu năm

Đi lễ đầu năm

Đã thành thông lệ, vào ngày đầu tiên của năm mới, người dân từ khắp nơi lại nô nức đổ về Đền Thượng - Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn phường Lào Cai để cầu bình an, hướng lòng mình đến những điều thiện lành.

Độc đáo trang phục người Xá Phó ở Lào Cai

Độc đáo trang phục người Xá Phó ở Lào Cai

Cộng đồng người Xá Phó (một nhóm thuộc dân tộc Phù Lá) sinh sống ở những vùng núi cao như xã Mường Bo (tỉnh Lào Cai). Đến nay, người Xá Phó vẫn còn gìn giữ được nét đẹp trong trang phục truyền thống, tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo.

"Gánh” lộc trời sáng mùng Một

"Gánh” lộc trời sáng mùng Một

Tết cổ truyền của người Khơ Mú được gọi là “Mạ chiêngz” với nhiều phong tục, tập quán riêng biệt làm nên bản sắc độc đáo của dân tộc này. Những phong tục, tập quán của người Khơ Mú mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, được người dân gìn giữ và bảo tồn, trong đó tục lấy nước đầu năm mới là một tục lệ đặc sắc có từ lâu đời.

Sẵn sàng cho Lễ hội Đền Ken năm 2026

Sẵn sàng cho Lễ hội Đền Ken năm 2026

Trong không khí những ngày đầu xuân Bính Ngọ, xã Chiềng Ken đang khẩn trương hoàn tất các phần việc phục vụ tổ chức Lễ hội Đền Ken năm 2026. Công tác chuẩn bị được triển khai đồng bộ từ hạ tầng, nội dung chương trình đến phương án đảm bảo an ninh, trật tự.

Xu hướng lì xì online ngày Tết

Xu hướng lì xì online ngày Tết

Giữa nhịp sống hiện đại và làn sóng chuyển đổi số mạnh mẽ, phong tục lì xì đầu năm - nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt đang khoác lên mình “chiếc áo mới”. Lì xì online dần trở thành lựa chọn quen thuộc của nhiều người dân Lào Cai, đặc biệt là giới trẻ.

Độc đáo phong tục Tết của người Dao tuyển

Độc đáo phong tục Tết của người Dao tuyển

Người Dao tuyển sinh sống ở các xã Bát Xát, Bảo Thắng, Bảo Yên, Mường Khương, Bắc Hà và phường Lào Cai. Đồng bào có nghi lễ đón Tết độc đáo và các sinh hoạt văn hóa dân gian giàu tính nghệ thuật, nhân văn và tính giáo dục.

fb yt zl tw