Đây là cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên viết về người Hà Nhì - dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa của đất nước, nơi lưu giữ được nhiều nét văn hóa đặc sắc, song cũng còn nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, bất bình đẳng.
Không gian tiểu thuyết là thung lũng Sín Chải. “Ở đó, núp dưới những rừng cây là những ngôi nhà hình nấm, tường đất, bốn mái chụm nhau, giống nhau như cùng một khuôn bám vào sườn núi. Trong những ngôi nhà đó gia đình, họ tộc, làng bản là những sợi tơ bền chắc đan nhằng, đan nhịt, đủ cho những con nhộng lớn dần, để rồi một ngày nào đó lại cần mẫn đan thêm cái vỏ bọc choàng lên con, lên cháu”. Vùng đất này thời tiết rất khắc nghiệt: “Mùa đông giá rét từ gió, từ mưa tuyết, mưa băng cứ dai dẳng từ tháng Chín đến tháng Hai. Mùa hè đến, sau những trận nắng gắt đầu mùa năm nào ở đây cũng phải hứng chịu những trận lốc lớn kèm theo mưa đá”.
Tiểu thuyết tập trung vào ba nhân vật Xá, Sé và Giờ. Ba thanh niên đã may mắn vượt khỏi được vòng vây núi non, luật tục, được học hành hết lớp 12, song không học tiếp mà trở về quê lập nghiệp, trở thành người học vấn cao nhất bản.
Tiểu thuyết đi sâu vào hai vấn đề lớn, đó là vai trò của già bản, trưởng bản, công an địa bàn trong việc giữ gìn bình yên, tạo sự phát triển cho thôn bản. Tác giả đặc biệt khai thác công cuộc giải phóng phụ nữ, đại diện là nhân vật Sé. Bìa cuốn sách dường như đã hé lộ ít nhiều về nội dung. Một chiếc lồng chim treo cạnh cửa tò vò của ngôi nhà trình tường. Người phụ nữ Hà Nhì mãi sống trong bậu cửa kia và nhìn ra thế giới chật hẹp của mình. Đàn ông Hà Nhì lại khác - họ có những đặc quyền riêng, thú vui riêng.
Sé mồ côi cả cha lẫn mẹ, năm cô lên mười tuổi một trận nổi giận của giời, đất, thần rừng, thần núi đã đưa hai mươi mốt người trong bản, trong đó có cha mẹ cô ra sông Cái. Hai mươi hai tuổi, Sé xinh đẹp, “Sé dịu dàng, mạnh mẽ, hệt như tia nắng mặt trời”. Sé và Xá có tình yêu đẹp và tự nhiên như nhánh phong lan rừng, như bao đôi trai làng, gái bản khác. Song, chuyện đời không thuận như nước chảy xuôi dòng. Ngay sau đêm tân hôn, Sé đã vấp phải nếp sống, nếp nghĩ, tập tục lạc hậu. Người đàn ông trong nhà được hưởng quá nhiều đặc quyền đặc lợi. Như Xá, “anh lại là con một, thương yêu không đổ lên đầu anh thì đổ lên đầu ai. Trong vòng tay yêu thương cùng chiều chuộng của luật tục, anh như con gà sống vỗ béo, khắc ăn, khắc lớn, khắc học hành, yêu đương”.
Phụ nữ phải trần mình ra gánh vác hầu hết công việc nặng nhọc như những “nô lệ” tự nguyện, chuyện văn hóa “củi” hút hết thời gian, sức lực của người phụ nữ, chuyện làng xóm nghèo khổ đói rách vì khư khư giữ cách làm, cách sinh hoạt cổ hủ… Họ cứ sống lầm lũi như thế “Rồi một ngày sẽ đi qua. Rồi một đời sẽ đi qua”.
Mẹ chồng Sé – bà Tả là người đại diện tiêu biểu cho thân phận người phụ nữ Hà Nhì. “Nhưng cũng như bao người phụ nữ Hà Nhì, suốt đời bà chỉ chăm chắm đến phận sự. Phận sự là bát nước rót cả đời không đầy nhưng không thể không rót. Xưa nay ngựa phải có yên, có cương, suối phải chảy theo dòng, trước bà thế, khắp bản này đều thế thì con dâu bà cũng phải thế. Mây, mái, tre pheo mà đốt không nối đốt thì không thể thành cây, thành búi. Cả đời làm dâu bà chưa dám quyết đáp điều gì, việc dạy con dâu bà phải giành lấy, bà đã mang đời làm dâu của bà ra làm khuôn rồi nhồi con dâu vào như nhồi thịt vào ruột non làm lạp xường”.
Sống tự lập từ bé, có tính cách mạnh mẽ, được học hành, được cộng thêm nhiều dài rộng, lại có một tâm hồn thi sĩ nên Sé không chịu, Sé phản kháng, đấu tranh cho chính mình, cho người phụ nữ Hà Nhì và làm cho cuộc sống tốt đẹp lên. Sé luôn đặt câu hỏi: “Sao người Mông, người Dao ở trên núi, người Giáy ở dưới núi làm được mà ta không làm được?”. “Bất hòa nối tiếp bất hòa, lửa chạm lửa, lời chạm lời, mưa nắng, gió bão sụt sùi, dai dẳng làm cho nhà cửa luôn thành cái tổ chim chèo bẻo”. Mâu thuẫn nối tiếp mâu thuẫn, va chạm nối tiếp va chạm, đấu tranh - bền bỉ đấu tranh, sự việc dồn đuổi tới mức gia đình Sé suýt bị tan vỡ, Xá phải gần đất xa giời, cuối cùng Sé quyết định dứt áo ra đi với quyết tâm học hành để trở về đối mặt với sự bất bình đẳng. “Sáng hôm sau cả thôn tiễn Sé ra cổng bản. Bà Tả khoác cái túi vải có con gà luộc, nắm xôi gói lá dong, gói đọt thảo quả lên vai con dâu, chúc con dâu nhớ quay về núi”.
Song song với Sé là nhân vật Lý Khờ Giờ - Trưởng bản kiêm Công an bản tài năng, trách nhiệm, yêu bản hết lòng.
Còn chồng Sé - Xá, rất yêu vợ, nửa muốn giúp vợ làm những điều thay đổi cuộc sống gia đình, bản làng nửa lại bị luật tục, nếp nghĩ bồi đắp từng ngày, từng ngày như phù sa ngoài sông Cái níu giữ, khó lòng thay đổi. Nhưng cuối cùng, anh cũng nhận ra, cho vợ tiếp tục đi học và rồi cả anh cũng cần tiếp tục đi học. Học để biết thêm cái chữ, để vẫn là quê hương đó, xứ sở đó nhưng cuộc sống của con người bớt nhọc nhằn.
Tiểu thuyết đã tập trung làm bật lên tính cách nhân vật trung tâm như vợ chồng Sé, bố mẹ chồng Sé, già bản -Tráng Khờ Giờ, đồng thời giới thiệu ấn tượng về đời sống, đặc sắc của văn hóa truyền thống như lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ thức cúng tế truyền thống, diễn xướng dân gian… Tiểu thuyết kết theo cách đuổi theo câu chuyện, Sé rời vòng vây núi để bay cao bay xa trong sự ủng hộ, trông đợi của dân bản và gia đình.
Cốt truyện hấp dẫn, cách miêu tả sinh động, vì lẽ đó, người đọc bị cuốn vào từng tình tiết của cuốn tiểu thuyết gồm 123 trang sách với 23 chương. Những câu văn được chau chuốt. Những hình ảnh được lựa chọn kỹ càng. Đặc biệt, dường như có thơ trong từng câu văn. Đó là nỗi lòng của Giờ khi Sé lấy chồng, như là tiếng hát, tiềng khèn lá mang tâm sự của chàng trai trẻ: “không có được em anh vẫn tưới rau nên rau, tưới hành nên củ, gió vẫn lọt vào cột quế trong nhà, lọt vào cột hoa trong cửa, hạt vừng trên đá thành cây… Ớt không cay tại đất, mẻ không chua tại người, em hãy gắng gom quả rừng về làm no lòng người, gom quả nhà mang đi làm no lòng rừng”.
Tên tác phẩm văn học chứa đựng được tinh thần, hoặc khái quát nội dung tác phẩm. Nhà văn Đoàn Hữu Nam hẳn cũng đặt vào đây không ít tâm tư cho đứa con tinh thần. “Nỗi niềm xứ sở” là nỗi niềm của cả một cộng đồng. Họ gắn kết hàng trăm năm, yêu thương, đùm bọc nhau và cũng chất chứa những băn khoăn, suy nghĩ để tìm ra cuộc sống tốt đẹp hơn.
Với vốn hiểu biết sâu sắc, nhà văn Đoàn Hữu Nam thêm một lần thử sức với đề tài dân tộc thiểu số và miền núi. Chẳng thế mà, một nhà lý luận phê bình văn học đã từng viết về nhà văn Đoàn Hữu Nam: Với khả năng khơi sâu vào cái riêng, cái đặc sắc của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền, ông đã góp phần cùng văn học dân tộc miền núi đem lại sự phong phú, đa dạng và có một vị trí nhất định trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại.