Thành tựu mới trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo

Các nhà khoa học của Viện Công nghệ thông tin (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho rằng: Hiện nay, cơ hội để nghiên cứu, phát triển sản phẩm công nghệ trí tuệ nhân tạo rất lớn, nhưng nếu không có cơ chế thúc đẩy kịp thời thì sản phẩm công nghệ của nước ngoài sẽ lấn át, các trang thiết bị đầu tư trong nước không được khai thác hiệu quả…

Hạ tầng kỹ thuật phục vụ nghiên cứu trí tuệ nhân tạo tại Viện Công nghệ thông tin.

Hạ tầng kỹ thuật phục vụ nghiên cứu trí tuệ nhân tạo tại Viện Công nghệ thông tin.

Xuất phát từ mong muốn cho ra đời sản phẩm “made in Vietnam”, có thể được sử dụng thông dụng với nhiều tiện ích, thậm chí có thể thay thế các sản phẩm dịch tự động của nước ngoài, nhóm nghiên cứu thuộc Viện Công nghệ thông tin (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) mới đây đã phát triển thành công phần mềm dịch các ngôn ngữ có ít tài nguyên dữ liệu; có thể dịch tự động tiếng Việt ra các ngôn ngữ ở khu vực Đông Nam Á như Khmer, Lào, Thái Lan, Malaysia…

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Việt Anh, Trưởng phòng Thí nghiệm khoa học dữ liệu và Ứng dụng (Viện Công nghệ Thông tin) cho biết, dịch máy (dịch tự động) là việc dịch một văn bản từ một ngôn ngữ sang một hoặc nhiều ngôn ngữ khác một cách tự động, không có sự can thiệp của con người trong quá trình dịch. Hiện nay, có nhiều sản phẩm dịch tự động được sử dụng phổ biến như: Google Translate của Google, Bing Translator của Microsoft,… với chất lượng dịch rất tốt cho các câu đơn.

Tuy nhiên, việc dịch một đoạn văn bản dài hơn, có tham chiếu thực thể, ngữ cảnh giữa các câu thì chất lượng dịch bị ảnh hưởng. Ngoài ra, các sản phẩm dịch thuật thương mại yêu cầu khách hàng trả tiền theo thời gian sử dụng hoặc số lượng câu dịch. Bên cạnh đó, các hệ thống này không có chất lượng dịch tốt đồng đều cho tất cả các cặp ngôn ngữ.

Thí dụ, với các ngôn ngữ nghèo tài nguyên dữ liệu như tiếng dân tộc thiểu số của Việt Nam hoặc các ngôn ngữ hiếm như tiếng Lào, Khmer…, chất lượng dịch của Google Translate hay Bing Translator chưa thật sự cao, và chất lượng dịch chưa hiệu quả trong các miền ngôn ngữ mang tính chuyên môn như y tế, luật pháp, an ninh…

Nhóm nghiên cứu tại Viện Công nghệ thông tin đã khắc phục được các bất cập nêu trên. Hệ thống dịch thuật do Viện phát triển lấy tiếng Việt làm trung tâm, có khả năng dịch hai chiều sang các ngôn ngữ nghèo tài nguyên dữ liệu với chất lượng tốt.

Quá trình thử nghiệm cho thấy, phần mềm dịch thuật này có chất lượng tương đương hoặc cao hơn Google Translate đối với cùng văn bản. Ngoài ra, phần mềm không hạn chế độ dài của văn bản cần dịch. Phần mềm dịch chạy riêng, lưu trữ dữ liệu tại chỗ, không phải sử dụng API của hãng cung cấp dịch vụ, bảo đảm an ninh, an toàn và không lộ lọt thông tin cho bên thứ ba.

Sản phẩm phù hợp cho các đơn vị có nhu cầu dịch thuật, hỗ trợ dịch ở các cửa khẩu, hay các công ty đa quốc gia.

Nhóm nghiên cứu cho biết, trước mắt, để đáp ứng nhu cầu của một số khách hàng, hệ thống tập trung triển khai kỹ thuật mô hình ngôn ngữ lớn vào việc ưu tiên các cặp ngôn ngữ giữa Việt Nam và Khmer; Việt Nam và Lào; Việt Nam và Thái Lan; Việt Nam và Indonesia; Việt Nam và Malaysia.

Do hệ thống được nhóm nghiên cứu phát triển, dựa trên hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ lưu trữ dữ liệu ngôn ngữ lớn và năng lực siêu tính toán trí tuệ nhân tạo/học máy (AI/ML) mạnh nhất Việt Nam sử dụng dòng chip tiên tiến trên thế giới là Nvidia GPU A100 80GB, Viện Công nghệ thông tin hoàn toàn làm chủ các công nghệ liên quan và dễ dàng mở rộng ứng dụng sang các ngôn ngữ đích mới bao gồm các ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Việt Nam như tiếng Mường, tiếng Thái… và các ngôn ngữ nước ngoài phổ biến khi cần. Đáng chú ý, hệ thống có khả năng tinh chỉnh để thích ứng với các miền ngôn ngữ chuyên sâu như y tế, luật … theo nhu cầu của người dùng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Việt Anh chia sẻ, sản phẩm dịch thuật nêu trên chỉ là một trong số rất nhiều sản phẩm ứng dụng trí tuệ nhân tạo mà các nghiên cứu viên của Viện Công nghệ thông tin tập trung phát triển để theo kịp xu thế của thế giới cũng như phục vụ nhu cầu trong nước. Trên cơ sở khai thác hệ thống trang thiết bị hiện đại được Nhà nước đầu tư, thời gian qua, các nghiên cứu viên đã phát triển các phần mềm có tính ứng dụng cao như: Hệ thống trợ lý ảo hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ hành chính công; hệ thống lắng nghe mạng xã hội; phần mềm phân tích, tìm kiếm các xu thế khoa học, công nghệ, sáng chế trên thế giới; phần mềm phân tích, nhận diện khách hàng dành cho ngân hàng; phần mềm phát hiện hành vi trốn thuế... Các sản phẩm này đã được ứng dụng tại một số địa phương, đơn vị trong nước.

Theo các nhà nghiên cứu, thị trường Việt Nam hiện rất phù hợp để ứng dụng các sản phẩm trí tuệ nhân tạo. Với việc làm chủ công nghệ và có hệ thống trang thiết bị hiện đại, thời gian tới, các nghiên cứu viên của Viện Công nghệ thông tin sẽ dần mở rộng các lĩnh vực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, như phân tích các hợp chất thiên nhiên để hỗ trợ chế tạo thuốc, giúp giảm khối lượng các công việc thực nghiệm; xây dựng hệ thống tư vấn sức khỏe cho người dân trên cơ sở khai thác dữ liệu nghiên cứu về thực phẩm dinh dưỡng của Việt Nam…

Tuy nhiên, khó khăn nhất hiện nay trong việc phát triển, ứng dụng sản phẩm trí tuệ nhân tạo là thiếu nhân lực do không có cơ chế thu hút, thiếu nguồn vốn đầu tư cho phát triển sản phẩm, thiếu cơ chế hỗ trợ đầu ra cho sản phẩm.

Tuy nhiên, khó khăn nhất hiện nay trong việc phát triển, ứng dụng sản phẩm trí tuệ nhân tạo là thiếu nhân lực do không có cơ chế thu hút, thiếu nguồn vốn đầu tư cho phát triển sản phẩm, thiếu cơ chế hỗ trợ đầu ra cho sản phẩm.

Nhiều ý kiến cho rằng, cần thúc đẩy việc ứng dụng sản phẩm trí tuệ nhân tạo thông qua cơ chế ưu tiên đặt hàng nghiên cứu đối với các nhà khoa học. Cùng với việc đầu tư máy móc, trang thiết bị, các cơ quan hữu quan cần có các chính sách thúc đẩy ứng dụng, nếu không các sản phẩm của nước ngoài sẽ dần chiếm lĩnh thị trường trong thời gian tới.

Theo Báo Nhân Dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Vận hành chính quyền với hệ thống quản trị số “Make in Mường Lai”

Vận hành chính quyền với hệ thống quản trị số “Make in Mường Lai”

Từ tháng 7/2025, tỉnh Lào Cai chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, trong đó xã Mường Lai nổi lên như một điểm sáng về đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành. Vượt qua những lúng túng ban đầu trước khối lượng công việc lớn khi sáp nhập và tiếp nhận nhiệm vụ từ cấp huyện, địa phương đã chủ động xây dựng hệ thống quản trị số “Make in Mường Lai”, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giám sát cán bộ và phục vụ người dân.

Người dân "biết số, hiểu số và dùng số"

Người dân "biết số, hiểu số và dùng số"

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tỉnh Lào Cai xác định người dân vừa là chủ thể, vừa là trung tâm của tiến trình chuyển đổi số. Từ nhận thức đó, thời gian qua, các cấp, ngành trong tỉnh đã tập trung triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao kỹ năng số cho người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 

Lào Cai triển khai Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Lào Cai triển khai Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 2244/QĐ-TTg ngày 13/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.

Động lực cho đổi mới sáng tạo

Động lực cho đổi mới sáng tạo

Mô hình liên kết “3 nhà” (Nhà nước, nhà trường, nhà doanh nghiệp) trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những giải pháp được tỉnh triển khai nhằm thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Chuyển đổi số mở lối cho y tế Việt Nam bứt phá

Chuyển đổi số mở lối cho y tế Việt Nam bứt phá

Những thành tựu y học mới cùng sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại đang tạo động lực mạnh mẽ cho ngành y tế đổi mới toàn diện. Kết hợp chuyển đổi số với nâng cao chất lượng bệnh viện được kỳ vọng sẽ giúp hệ thống y tế phục vụ người dân hiệu quả và bền vững hơn.

Nghị quyết số 57-NQ/TW: Đồng tốc, đồng lòng, bước ra 'vùng chính sách' để đi vào đời sống

Nghị quyết số 57-NQ/TW: Đồng tốc, đồng lòng, bước ra 'vùng chính sách' để đi vào đời sống

Sau một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, những chuyển động bước đầu cho thấy tinh thần đồng tốc trong chỉ đạo, đồng lòng trong tổ chức thực hiện. Nghị quyết 57 đang được cụ thể hóa bằng thể chế, nguồn lực và các kết quả có thể đo đếm.

Lào Cai đa dạng hóa hình thức tuyên truyền phong trào “Bình dân học vụ số”

Lào Cai đa dạng hóa hình thức tuyên truyền phong trào “Bình dân học vụ số”

Thời gian qua, tỉnh Lào Cai đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về phong trào “Bình dân học vụ số”. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng số cho cán bộ và Nhân dân, từng bước tạo nền tảng cho tiến trình chuyển đổi số trên địa bàn.

Hiện thực hóa mục tiêu xây dựng tỉnh “số”

Hiện thực hóa mục tiêu xây dựng tỉnh “số”

Tại Lào Cai, việc triển khai nghị quyết số 57- NQ/TW của Bộ Chính trị về khoa học - công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là bài toán thực tiễn về tư duy, thể chế và cách làm. Sau một năm thực hiện với quyết tâm chính trị cao, cách làm bài bản, có trọng tâm, trọng điểm, Nghị quyết 57 đã từng bước hình thành nền tảng cho chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, tạo động lực phát triển mới.

Đề án 06 – Đòn bẩy số hóa vì người dân

Đề án 06 – Đòn bẩy số hóa vì người dân

Chỉ với chiếc căn cước công dân gắn chip, người dân có thể đi khám chữa bệnh, làm thủ tục hành chính, nhận lương hưu, trợ cấp an sinh xã hội mà không cần mang theo nhiều loại giấy tờ như trước. Những thay đổi thiết thực ấy cho thấy Đề án 06 đã thực sự đi vào đời sống, phục vụ người dân hiệu quả hơn.

Lào Cai nằm trong top 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu về làm sạch và đồng bộ dữ liệu đất đai

Lào Cai nằm trong top 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu về làm sạch và đồng bộ dữ liệu đất đai

Sau 90 ngày triển khai Chiến dịch làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai theo Kế hoạch số 515/KH-BCA-BNN&MT, tỉnh Lào Cai đã hoàn thành khối lượng công việc lớn, đạt kết quả nổi bật và được xếp trong top 10/34 tỉnh, thành phố có tỷ lệ làm sạch, xác thực và đồng bộ dữ liệu đất đai cao trên cả nước.

Lào Cai: Kinh tế số thay đổi tư duy phụ nữ vùng cao

Lào Cai: Kinh tế số thay đổi tư duy phụ nữ vùng cao

Kinh tế số đang mở ra nhiều cơ hội phát triển mới cho người dân Lào Cai. Trong dòng chảy ấy, phụ nữ dân tộc thiểu số ngày càng chủ động tiếp cận công nghệ, tham gia sản xuất - kinh doanh trên môi trường số, qua đó góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và khẳng định vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình, cộng đồng.

Học sinh Mù Cang Chải và dự án nâng tầm kỹ năng số

Học sinh Mù Cang Chải và dự án nâng tầm kỹ năng số

Trước làn sóng chuyển đổi số mạnh mẽ, dự án “Thế giới số - Bước chân học sinh hiện đại” của nhóm học sinh Trường THPT Mù Cang Chải trở thành một điểm sáng. Không chỉ là sản phẩm dự thi khoa học, kỹ thuật năm 2025, dự án của em Đặng Hương Thảo lớp 12A4 và Phạm Quang Huy lớp 10A1 thể hiện nỗ lực tiếp cận công nghệ, thu hẹp khoảng cách tri thức và hỗ trợ học sinh vùng cao chuẩn bị tốt hơn cho môi trường học tập số.

Lào Cai triển khai 152 đội hình “Bình dân học vụ số”

Lào Cai triển khai 152 đội hình “Bình dân học vụ số”

Năm 2025, Tỉnh ủy Lào Cai xác định triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” là một trong những giải pháp trọng tâm, mang ý nghĩa chiến lược nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là bước đi thiết thực đưa công nghệ số đến gần hơn với người dân, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho tiến trình chuyển đổi số toàn diện của tỉnh.

fb yt zl tw