Sửa đổi quy định về chế độ, chính sách đối với sĩ quan nghỉ hưu, chuyển ngành

Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 21/2009/NĐ-CP ngày 23/02/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam về chế độ, chính sách đối với sĩ quan thôi phục vụ tại ngũ; sĩ quan tại ngũ hy sinh, từ trần; sĩ quan tại ngũ chuyển sang quân nhân chuyên nghiệp hoặc công chức quốc phòng.

Ảnh minh họa: Thanh Liêm/TTXVN
Ảnh minh họa: Thanh Liêm/TTXVN

Bổ sung quy định về chế độ, chính sách đối với sĩ quan nghỉ hưu

Trong đó, Nghị định số 52/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung gạch đầu dòng thứ nhất điểm a khoản 2 Điều 2 Nghị định số 21/2009/NĐ-CP quy định về đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp một lần. Theo quy định mới, đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp một lần gồm: Sĩ quan thuộc diện dôi dư do thay đổi tổ chức, hoặc thay đổi biểu tổ chức, biên chế theo quyết định của cấp có thẩm quyền; sĩ quan hết hạn tuổi giữ chức vụ chỉ huy, quản lý đơn vị theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam mà quân đội không còn nhu cầu bố trí, sử dụng.

Nghị định số 52/2025/NĐ-CP cũng bổ sung khoản 3 Điều 2 Nghị định số 21/2009/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với sĩ quan nghỉ hưu: Sĩ quan khi có quyết định nghỉ hưu, nếu đã được thăng cấp bậc quân hàm, nâng lương được 2/3 thời hạn trở lên và được đánh giá từ mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên thì được thăng cấp bậc quân hàm, nâng lương (trừ trường hợp thăng quân hàm cấp tướng).

Bổ sung chế độ, chính sách đối với sĩ quan chuyển ngành

Nghị định số 52/2025/NĐ-CP cũng sửa đổi điểm c, d, đ và bổ sung điểm e, g tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 21/2009/NĐ-CP quy định về các quyền lợi được hưởng của sĩ quan chuyển ngành được tuyển dụng vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Theo quy định mới, sĩ quan chuyển ngành được tuyển dụng vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước được hưởng quyền lợi như sau: được ưu tiên bố trí việc làm phù hợp với ngành nghề chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ; được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết phù hợp với công việc đảm nhiệm; được miễn thi tuyển, nếu chuyển ngành về cơ quan, đơn vị cũ hoặc chuyển ngành theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; được ưu tiên cộng thêm điểm vào kết quả thi tuyển công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức tại thời điểm thi tuyển;

Sĩ quan được xếp và hưởng lương theo vị trí việc làm mới, công việc mới, chức vụ mới kể từ ngày quyết định chuyển ngành có hiệu lực. Trường hợp tiền lương theo nhóm, ngạch, bậc được xếp thấp hơn tiền lương theo cấp bậc quân hàm của sĩ quan được hưởng tại thời điểm chuyển ngành thì được bảo lưu mức lương, phụ cấp thâm niên và đóng - hưởng chế độ bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành trong thời gian là 18 tháng, kể từ ngày quyết định chuyển ngành có hiệu lực và do cơ quan, đơn vị mới chi trả.

Việc tiếp tục cho hưởng lương bảo lưu ngoài thời gian 18 tháng do Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức xem xét, quyết định phù hợp với tương quan tiền lương nội bộ. Trong thời gian hưởng bảo lưu, mức tiền lương chênh lệch bảo lưu giảm tương ứng khi cán bộ, công chức, viên chức được nâng lương hoặc được hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung trong ngạch hoặc được nâng ngạch; trường hợp được nâng lương mà mức lương mới cao hơn mức lương tại thời điểm chuyển ngành thì được hưởng mức lương mới. Sau thời gian bảo lưu lương, tiếp tục được hưởng mức phụ cấp thâm niên tại thời điểm chuyên ngành hoặc được cộng nối để tính hưởng phụ cấp thâm niên ở các ngành được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên;

Sĩ quan đã chuyển ngành, đủ điều kiện hưởng lương hưu, nếu mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ để tính lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội tại thời điểm nghỉ hưu thấp hơn mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành thì được lấy mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành, được chuyển đổi theo chế độ tiền lương quy định tại thời điểm nghỉ hưu để làm căn cứ tính lương hưu;

Sĩ quan đã chuyển ngành, nếu không đủ điều kiện hưởng lương hưu mà thôi việc thì ngoài hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định, được giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc do cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức tại thời điểm thôi việc chi trả; trong đó: cứ mỗi năm công tác trong Quân đội được trợ cấp bằng 01 tháng tiền lương của tháng liền kề trước khi chuyển ngành, được chuyển đổi theo chế độ tiền lương quy định tại thời điểm thôi việc để làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc; thời gian công tác tại cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước, trợ cấp thôi việc thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức tại thời điểm thôi việc;

Đối với các trường hợp chuyển ngành sang làm việc tại các cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có thời gian công tác trong Quân đội được cấp có thẩm quyền xác định là chuẩn úy, khi nghỉ hưu thì hệ số lương làm cơ sở tính tiền lương bình quân làm căn cứ tính hưởng lương hưu đối với thời gian chuẩn úy được chuyển xếp là 3,90.

Theo Nghị định số 52/2025/NĐ-CP, sĩ quan chuyển ngành sang làm việc tại các cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước sau đó chuyển ngành sang cơ quan, đơn vị không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, khi nghỉ hưu, được cộng thêm khoản phụ cấp thâm niên nghề theo thời gian công tác trong Quân đội và cấp bậc quân hàm tại thời điểm liền kề trước khi sĩ quan chuyển ngành, được chuyển đổi theo chế độ tiền lương quy định tại thời điểm nghỉ hưu khi tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho thời gian công tác theo chế độ tiền lương do nhà nước quy định để làm căn cứ tính lương hưu đối với sĩ quan.

Ngoài ra, sĩ quan đã chuyển ngành nhưng do yêu cầu nhiệm vụ, được cấp có thẩm quyền quyết định trở lại phục vụ trong Quân đội, được sắp xếp công việc mới phù hợp với nhu cầu, năng lực của sĩ quan; thời gian chuyển ngành công tác tại cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước được tính vào thời gian công tác liên tục để xét nâng lương, thăng quân hàm và tính thâm niên công tác.

Chế độ, chính sách đối với sĩ quan chuyển ngành sang làm việc tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp không hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Nghị định số 52/2025/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 4 về chế độ, chính sách đối với sĩ quan chuyển ngành sang làm việc tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp không hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Theo đó, sĩ quan chuyển ngành sang làm việc tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp không hưởng lương từ ngân sách nhà nước được hưởng các chế độ, chính sách sau: được bảo lưu thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành; được hưởng trợ cấp một lần, cứ mỗi năm công tác được trợ cấp bằng 1 tháng tiền lương của tháng liền kề trước khi chuyển ngành, do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng quản lý sĩ quan trước khi chuyển ngành chi trả; Sĩ quan đã chuyển ngành, đủ điều kiện hưởng lương hưu, được thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành nhưng không được áp dụng cách tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ để tính lương hưu theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 3 Nghị định số 21/2009/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị định này.

Theo baotintuc.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày toàn dân phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (4/10)

Triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày toàn dân phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (4/10)

Hướng tới kỷ niệm 25 năm Ngày toàn dân phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (04/10/2001 - 04/10/2026), UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp tăng cường tuyên truyền, tổ chức thực tập phương án và chủ động khắc phục nguy cơ mất an toàn phòng cháy, chữa cháy ngay từ cơ sở.

Lào Cai triển khai chính sách hỗ trợ người giám định tư pháp, người giúp việc

Lào Cai triển khai chính sách hỗ trợ người giám định tư pháp, người giúp việc

UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Công văn số 9318/UBND-NC yêu cầu các cơ quan, đơn vị khẩn trương triển khai Nghị quyết số 28/2026/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ người giám định tư pháp, người giúp việc cho giám định viên tư pháp, bảo đảm kịp thời, thống nhất và đúng quy định.

Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu chấn chỉnh, nâng cao chất lượng, trách nhiệm trong công tác tham mưu

Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu chấn chỉnh, nâng cao chất lượng, trách nhiệm trong công tác tham mưu

Tại văn bản số 9060/UBND-TH ban hành ngày 7/9/2026, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh và UBND các xã, phường xử lý triệt để tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm và hồ sơ chậm muộn. Đáng chú ý, tỉnh sẽ áp dụng cơ chế gắn chất lượng tham mưu với đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và KPI.

Lào Cai phấn đấu chỉ số hạnh phúc đạt từ 72% trở lên vào năm 2030

Lào Cai phấn đấu chỉ số hạnh phúc đạt từ 72% trở lên vào năm 2030

Tỉnh ủy Lào Cai vừa ban hành Chương trình hành động số 109-CTr/TU thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030, chỉ số hạnh phúc của tỉnh đạt từ 72% trở lên.

Lào Cai ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng

Lào Cai ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng

Tỉnh ủy Lào Cai vừa ban hành Chương trình hành động số 112-CTr/TU ngày 30/8/2026 thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 7/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.

Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị

Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã ký Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 7/9/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.

Lào Cai ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 76-KL/TW và Kế hoạch số 06-KH/TW của Trung ương

Lào Cai ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 76-KL/TW và Kế hoạch số 06-KH/TW của Trung ương

Ngày 30/8/2026, Tỉnh ủy Lào Cai ban hành Chương trình hành động số 107-CTr/TU thực hiện Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Kế hoạch số 06-KH/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Lào Cai khảo sát chỉ số hạnh phúc của người dân trên toàn tỉnh vào tháng 9 hàng năm

Lào Cai khảo sát chỉ số hạnh phúc của người dân trên toàn tỉnh vào tháng 9 hàng năm

Từ ngày 1 - 15/9 hằng năm, Thống kê tỉnh Lào Cai sẽ tổ chức khảo sát đánh giá chỉ số hạnh phúc tại các xã, phường trên toàn tỉnh, với 20.700 hộ dân được lựa chọn tham gia. Kết quả khảo sát là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ hài lòng của người dân và phục vụ công tác hoạch định, điều hành chính sách.

fb yt zl tw