Nghị quyết 57: Nắm bắt cơ hội đột phá từ ngoại giao khoa học và công nghệ

Ngoại giao kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của ngành ngoại giao thì ngoại giao khoa học và công nghệ phải là nhiệm vụ trung tâm của ngoại giao kinh tế trong ngoại giao thời đại mới.

Tiến sĩ Trần Thị Kim Chi nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của Viện Khoa học vật liệu.
Tiến sĩ Trần Thị Kim Chi nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của Viện Khoa học vật liệu.

Trong 7 nhiệm vụ được Bộ Chính trị đưa ra tại Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, nhiệm vụ thứ 7 là: Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Hiện thực hóa nhiệm vụ trên, ngoại giao khoa học và công nghệ đã và đang được nhiều Bộ, ngành, lĩnh vực triển khai.

Đưa tri thức khoa học công nghệ về Việt Nam

Với giải pháp cụ thể được nêu tại Nghị quyết 57, các Bộ, ngành đơn vị đã và đang tập trung đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với các quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ, chuyển đổi số phát triển, đồng thời từng bước thúc đẩy nâng cao năng lực và chuyển giao công nghệ trong các thỏa thuận quốc tế, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên tham gia.

Trong hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ đóng vai trò chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan để tham mưu cho Chính phủ, đề xuất và thúc đẩy quá trình này.

Qua đó, nhiều giải pháp khoa học và công nghệ mang tính đột phá từ những cường quốc trên thế giới, như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Đức, Australia... đã được chuyển giao về Việt Nam.

Nhiều tri thức khoa học và công nghệ mới được các nhà khoa học Việt Nam tiếp thu, ứng dụng và từng bước làm chủ được một số công nghệ tiên tiến, rút ngắn thời gian nghiên cứu trong nước, phục vụ hiệu quả phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng và an ninh; đồng thời, góp phần đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ nghiên cứu và quản lý của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trong nước, tiếp cận trình độ quốc tế, góp phần nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, tăng cường cơ sở vật chất cho một số cơ sở nghiên cứu - triển khai trong nước.

Theo ông Lý Hoàng Tùng (Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ), Bộ đã thiết lập quan hệ hợp tác về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với gần 70 tổ chức quốc tế, quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết hơn 150 điều ước quốc tế và 80 thỏa thuận quốc tế, trong đó gần 110 điều ước và 40 thỏa thuận còn hiệu lực.

Bộ cũng đóng vai trò đầu mối triển khai các điều ước và thỏa thuận quốc tế, hợp tác đa phương với nhiều tổ chức quan trọng như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Liên hợp quốc (UN), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO), tập trung vào các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và ứng phó biến đổi khí hậu.

Hoạt động hợp tác quốc tế được triển khai tích cực nhằm tranh thủ tri thức, kinh nghiệm, công nghệ, đào tạo nhân lực và hỗ trợ đầu tư, góp phần thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ trong nước.

Hình thức hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam ngày càng đa dạng, phong phú, đi vào thực chất. Từ việc ký kết các điều ước, thỏa thuận hợp tác, mở rộng quan hệ theo “chiều rộng,” nước ta dần tiến tới giai đoạn triển khai cụ thể hóa và hiện thực hóa các nội dung trong các cam kết, thỏa thuận trên theo “chiều sâu.”

Từ việc tổ chức các hội thảo khoa học, triển lãm công nghệ, trao đổi chuyên gia, tài liệu, thông tin khoa học, Việt Nam đã tiến tới triển khai những dự án nghiên cứu chung, chuyển giao kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, thực hiện các đề tài, dự án nghiên cứu với sự hỗ trợ của chuyên gia nước đối tác.

Đánh giá về những thành tựu trong ngoại giao khoa học và công nghệ thời gian qua, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng cho biết, qua trao đổi với các đối tác quốc tế và qua các hoạt động đối ngoại cấp cao, cộng đồng quốc tế bày tỏ rất ấn tượng và đánh giá cao tư duy, trí tuệ, chất lượng nguồn nhân lực, chủ trương, quyết sách của Đảng, Nhà nước ta xác định khoa học và công nghệ là yếu tố then chốt để tạo đột phá phát triển.

Tất cả những yếu tố đó đã tạo đà cho sự phát triển của khoa học và công nghệ Việt Nam. Bên cạnh đó, cộng đồng quốc tế cũng bày tỏ tin tưởng cao vào quá trình chuyển đổi, thích ứng của nền kinh tế Việt Nam dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trên thực tế, các tập đoàn công nghệ lớn như Apple, Intel, Google, Samsung, LG đều cam kết mở rộng đầu tư ở Việt Nam.

Trong gần 60 hoạt động đối ngoại cấp cao của năm 2024, nội hàm khoa học công nghệ luôn được chú trọng hàng đầu.

Thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực chất lượng cao đã đạt nhiều kết quả tích cực, gây tiếng vang trong cộng đồng quốc tế; hỗ trợ kết nối các địa phương, doanh nghiệp, trường đại học trong nước với các đối tác quốc tế, huy động nguồn lực quốc tế cho phát triển công nghệ cao và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nhờ đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã có những thành tựu đáng kể. Trong xếp hạng của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam đứng thứ 44 về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), đứng thứ 4 khu vực Đông Nam Á.

Nhiệm vụ trung tâm của ngoại giao kinh tế

Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ Huỳnh Thành Đạt, trong giai đoạn mới, với nhiều thách thức, đặc điểm tình hình mới, nhằm triển khai tốt công tác hợp tác và hội nhập quốc tế, cần đẩy mạnh triển khai các hiệp định và thỏa thuận hợp tác về khoa học, công nghệ và đổi mới, tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm, tối ưu hóa nguồn lực hiện có.

Trung tâm Dữ liệu chính thành phố Hà Nội tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Hà Nội.
Trung tâm Dữ liệu chính thành phố Hà Nội tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Hà Nội.

Cùng với đó, thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, phát triển ngành Halal, hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và phát triển doanh nghiệp dựa trên tài sản trí tuệ.

Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương cho rằng, hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ, và tăng cường khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và châu Âu (EVFTA) yêu cầu Việt Nam cải thiện công nghệ, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định xuất xứ.

Để tận dụng tối đa cơ hội này, Việt Nam cần tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các tổ chức nghiên cứu; đồng thời thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển các ngành công nghệ cao như sản xuất sạch và bền vững.

Trong bối cảnh Đảng ta khẳng định chủ trương phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là đột phá quan trọng hàng đầu, Thứ trưởng Nguyễn Minh Hằng cho rằng, ngoại giao khoa học và công nghệ phải trở thành nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của các bộ, ngành, các địa phương, doanh nghiệp, các trường đại học, cơ sở đào tạo.

Ngoại giao kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của ngành ngoại giao thì ngoại giao khoa học và công nghệ phải là nhiệm vụ trung tâm của ngoại giao kinh tế trong ngoại giao thời đại mới.

Nghị quyết số 57-NQ/TW đã chỉ đạo quyết liệt hoàn thiện thể chế. Các Bộ, ngành trên cơ sở nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các nước để tiếp tục đổi mới, cải cách, quyết liệt tháo gỡ các điểm nghẽn, rào cản về thể chế trong nước, đưa thể chế thực sự trở thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Các Bộ, ngành cần hợp tác chặt chẽ để triển khai những giải pháp tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; trong đó có việc phối hợp triển khai hiệu quả các thỏa thuận hợp tác đã ký kết với các các đối tác chiến lược như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và một số nước EU…; chú trọng các hoạt động hợp tác về nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao, các ngành khoa học và công nghệ lõi, công nghệ nguồn.

Cùng với đó, thúc đẩy thiết lập các khuôn khổ đối tác mới về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đưa khoa học công nghệ trở thành trọng tâm trong các khuôn khổ đối tác; trong đó có các nền kinh tế khu vực Trung Đông, châu Âu…, các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới, trọng tâm là công nghệ sinh học, năng lượng, môi trường, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, bán dẫn, công nghệ lượng tử, robot và tự động hóa...

Đồng thời, tăng cường huy động các nguồn lực quốc tế, các nguồn tài chính xanh, gắn với chuyển giao công nghệ; thu hút đầu tư vào các dự án trọng điểm, có tính dẫn dắt, lan tỏa, gắn với chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, nâng cao sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị của các tập đoàn lớn toàn cầu.

Theo vietnamplus.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Chuyển đổi số nâng cao chất lượng công tác kiểm sát

Chuyển đổi số nâng cao chất lượng công tác kiểm sát

Thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và Kế hoạch 226 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai đang từng bước đưa công nghệ số vào hoạt động chuyên môn. Từ số hóa hồ sơ, quản lý dữ liệu nghiệp vụ đến ứng dụng phần mềm hỗ trợ kiểm sát hoạt động tư pháp, chuyển đổi số đã giúp cán bộ, kiểm sát viên xử lý công việc nhanh hơn, chính xác và minh bạch hơn.

Chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan tư pháp

Chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan tư pháp

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng chính quyền số, các cơ quan tư pháp tỉnh Lào Cai đang từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi hoạt động nghiệp vụ, từ tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục đến quản lý dữ liệu và công khai thông tin pháp lý.

Hành động thực chất thực hiện mục tiêu chuyển đổi số

Hành động thực chất thực hiện mục tiêu chuyển đổi số

Năm 2026, tỉnh Lào Cai xác định chuyển đổi mạnh mẽ từ “nhận thức” sang “hành động thực chất” trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những kết quả đạt được trong năm 2025 sẽ là nền tảng quan trọng để tỉnh phát triển đột phá trong giai đoạn 2026 - 2030. Với quyết tâm cao, hành động quyết liệt của tỉnh sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chỉ số hài lòng cho người dân.

AI - Chìa khóa giúp doanh nghiệp tăng trưởng

AI - Chìa khóa giúp doanh nghiệp tăng trưởng

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra rộng khắp, trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang được ứng dụng mạnh mẽ trong hầu hết các khâu quan trọng của doanh nghiệp. AI được kỳ vọng là chìa khóa giúp doanh nghiệp tăng trưởng trong kỷ nguyên mới.

Cảnh báo lỗ hổng bảo mật trong Chromium của Google - nguy cơ mất an ninh mạng trên các trình duyệt web

Cảnh báo lỗ hổng bảo mật trong Chromium của Google - nguy cơ mất an ninh mạng trên các trình duyệt web

Khi người dùng vô tình truy cập vào trang web này, trình duyệt có thể bị lợi dụng để chạy các đoạn mã do tin tặc cài sẵn. Từ đó, tin tặc có thể âm thầm đánh cắp thông tin đăng nhập, theo dõi hoạt động duyệt web hoặc chiếm quyền các tài khoản đang đăng nhập của người dùng.

“Bình dân học vụ số”: Từ tri thức đến động lực chuyển đổi số ở Lào Cai

“Bình dân học vụ số”: Từ tri thức đến động lực chuyển đổi số ở Lào Cai

Chuyển đổi số đang khẳng định vai trò chiến lược của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong phát triển nhanh, bền vững. Sau một năm thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, tinh thần “hành động đột phá, lan tỏa kết quả” dần đi vào thực tiễn. Tại Lào Cai, phong trào “Bình dân học vụ số” với cách tiếp cận từ cơ sở, thôn bản và từng người dân đã tạo chuyển động tích cực. Khi tri thức số được lan tỏa, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số sẽ trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Cuộc “cách mạng số” ở Khánh Hòa

Cuộc “cách mạng số” ở Khánh Hòa

Sau hợp nhất, cấp ủy, chính quyền xã Khánh Hòa xác định lấy “số hóa” làm trung tâm xây dựng và vận hành đơn vị hành chính cấp xã. “Số hóa” đã và đang vào từng nếp nhà, từng thôn, bản, biến Khánh Hòa trở thành địa phương đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số của toàn tỉnh.

Bài 2: Nền tảng dữ liệu số - Chiến lược tạo đột phá phát triển

“Bình dân học vụ số”: Từ tri thức đến động lực chuyển đổi số ở Lào Cai Bài 2: Nền tảng dữ liệu số - Chiến lược tạo đột phá phát triển

Nếu phong trào “Bình dân học vụ số” giúp người dân từng bước làm quen với môi trường số, thì hạ tầng viễn thông và hệ thống dữ liệu chính là nền tảng để những kỹ năng ấy được ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn. Vì vậy, Lào Cai đang tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng số hiện đại, mở rộng mạng băng rộng và phát triển các nền tảng dữ liệu dùng chung, từng bước hình thành chính quyền số, kinh tế số và xã hội số bền vững.

Bài 1: Khi tri thức số bắt đầu từ cộng đồng

“Bình dân học vụ số”: Từ tri thức đến động lực chuyển đổi số ở Lào Cai Bài 1: Khi tri thức số bắt đầu từ cộng đồng

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, yêu cầu “hành động đột phá, lan tỏa kết quả” đang từng bước hiện hữu trong đời sống. Tại Lào Cai, trong tiến trình chuyển đổi số, con người được xác định là yếu tố nền tảng. Từ nhận thức đó, địa phương đã lựa chọn hướng đi mang tính căn cơ: phổ cập kỹ năng số cho người dân thông qua phong trào “Bình dân học vụ số”, đưa tri thức số lan tỏa tới cộng đồng.

fb yt zl tw