Minh bạch dữ liệu, nền tảng của khởi nghiệp xanh

Trong bối cảnh Nghị quyết 57- NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang được triển khai mạnh mẽ, hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển mới gắn với kinh tế xanh.

Tuy nhiên, để tiếp cận thị trường quốc tế, chuỗi cung ứng toàn cầu và nguồn vốn xanh, doanh nghiệp không chỉ cần công nghệ hay ý tưởng, mà phải chứng minh được tính minh bạch của dữ liệu trong toàn bộ chuỗi giá trị sản phẩm.

Mô hình trang trại thông minh Delco Farm tại xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh được xây dựng và thiết kế theo tiêu chuẩn công nghệ cao.
Mô hình trang trại thông minh Delco Farm tại xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh được xây dựng và thiết kế theo tiêu chuẩn công nghệ cao.

Blockchain và bài toán minh bạch chuỗi giá trị

Theo các chuyên gia, khủng hoảng niềm tin trong nhiều chuỗi cung ứng hiện nay phần lớn bắt nguồn từ hệ thống dữ liệu thiếu đồng bộ, khó xác thực và dễ bị can thiệp. Khi thông tin về nguồn gốc, quy trình sản xuất hay vận chuyển không được ghi nhận đầy đủ và minh bạch, doanh nghiệp rất khó chứng minh chất lượng sản phẩm, đặc biệt khi tham gia các thị trường yêu cầu tiêu chuẩn cao về môi trường, xã hội và quản trị (ESG).

Bà Jlo Trần, đồng sáng lập và Giám đốc điều hành VBI Academy, đại diện GFI Ventures chia sẻ: Blockchain (công nghệ chuỗi khối) đang chuyển từ một công nghệ mới nổi sang vai trò của “hạ tầng niềm tin” trong nền kinh tế số. Nhờ khả năng lưu trữ dữ liệu bất biến, minh bạch và có thể kiểm chứng, blockchain cho phép ghi nhận toàn bộ quá trình sản xuất và lưu thông của sản phẩm, từ đó giúp doanh nghiệp xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đáng tin cậy, nâng cao uy tín thương hiệu và khả năng tiếp cận thị trường.

Từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh tại nhiều địa phương cho thấy, minh bạch chuỗi cung ứng đang trở thành yêu cầu bắt buộc. Truy xuất nguồn gốc không còn là lựa chọn, mà đã trở thành nền tảng của thương mại bền vững, đặc biệt đối với các ngành nông nghiệp, thực phẩm, sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương. Tuy nhiên, nhiều hệ thống truy xuất nguồn gốc hiện nay vẫn chỉ dừng ở việc gắn mã QR hoặc cung cấp thông tin mô tả đơn giản. Truy xuất đúng nghĩa phải theo dõi toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ nguyên liệu, sản xuất đến logistics và phân phối với dữ liệu liên thông và khó bị chỉnh sửa. Thực tế cho thấy, nhiều hệ thống truy xuất nguồn gốc còn mang tính hình thức, thiếu khả năng xác thực, chưa đáp ứng yêu cầu ESG và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, blockchain được xem là một trong những công nghệ có khả năng giải quyết hiệu quả bài toán minh bạch dữ liệu. Với cơ chế lưu trữ phi tập trung và không thể chỉnh sửa, blockchain cho phép ghi nhận toàn bộ quá trình sản xuất, vận chuyển và phân phối của sản phẩm. Nhờ đó, các bên trong chuỗi giá trị, từ nhà sản xuất, nhà phân phối đến người tiêu dùng đều có thể truy xuất và xác thực thông tin, giảm nguy cơ gian lận và tăng độ tin cậy của thị trường. Tại Việt Nam, một số mô hình ứng dụng blockchain trong truy xuất nguồn gốc đã mang lại kết quả tích cực. Chẳng hạn, một số sản phẩm nông nghiệp như thanh long, xoài Cát Chu tại Đồng Tháp khi áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc đã nâng cao giá trị thương mại và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường.

Tuy vậy, thách thức lớn hiện nay là phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn gặp khó khăn trong việc xây dựng hệ thống dữ liệu minh bạch. Dữ liệu sản xuất, vận chuyển và phân phối thường bị phân tán, thiếu chuẩn chung, khiến việc chứng minh nguồn gốc hay chất lượng sản phẩm còn nhiều hạn chế.

Trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng sâu rộng, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và Internet vạn vật (IoT) đang trở thành bộ ba công nghệ quan trọng hỗ trợ doanh nghiệp quản trị và vận hành. Khi dữ liệu được số hóa và phân tích theo thời gian thực, doanh nghiệp có thể tối ưu nguồn lực, giảm tiêu hao năng lượng và tăng tính minh bạch trong chuỗi giá trị. Việc ứng dụng blockchain cùng các công nghệ dữ liệu cũng góp phần củng cố niềm tin thị trường.

Thể chế và tài chính xanh, đòn bẩy cho khởi nghiệp bền vững

Bên cạnh vai trò của công nghệ, một yếu tố quan trọng khác đang định hình môi trường phát triển của các startup xanh là khung thể chế và chính sách hỗ trợ. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Văn Khải nhấn mạnh: “Ở Việt Nam, ESG được ví như “tấm hộ chiếu” giúp doanh nghiệp hội nhập quốc tế bền vững. Tuy chịu áp lực tuân thủ từ quy định trong nước lẫn yêu cầu đối tác quốc tế, ESG vẫn mang lại lợi ích thiết thực, đó là: Tiết kiệm chi phí dài hạn và tiếp cận vốn xanh. ESG chỉ thật sự có giá trị khi được triển khai một cách thực chất, tránh tình trạng “tẩy xanh” hay chỉ dừng ở các cam kết mang tính hình thức”.

Những năm gần đây, nhiều chính sách và quy định pháp luật đã từng bước hình thành hành lang thuận lợi cho khởi nghiệp sáng tạo gắn với tăng trưởng xanh. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cùng các văn bản hướng dẫn như Nghị định số 08/2022/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/ NĐ-CP đã đặt nền móng cho hệ thống quản lý môi trường theo hướng minh bạch và trách nhiệm hơn. Đáng chú ý, Quyết định số 21/2025/ QĐ-TTg có hiệu lực từ tháng 8/2025 lần đầu tiên ban hành khung phân loại xanh quốc gia, xác định rõ thế nào là dự án xanh và tạo cơ sở để định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phát triển bền vững.

Song song với đó, nhiều chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo đang được hoàn thiện như Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng các nghị định về quỹ đầu tư mạo hiểm và hướng dẫn Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 được kỳ vọng sẽ trở thành khung đánh giá rủi ro mới đối với các dự án công nghệ và đổi mới sáng tạo, giúp các tổ chức tín dụng và quỹ đầu tư thẩm định các dự án số gắn với tài chính xanh minh bạch và hiệu quả hơn.

Tuy vậy, nhiều doanh nghiệp nhỏ và startup vẫn gặp khó khi tiếp cận vốn xanh do thiếu dữ liệu chứng minh tác động môi trường và xã hội. Theo các chuyên gia, doanh nghiệp cần xác định rõ sản phẩm hoặc mô hình kinh doanh của mình thuộc nhóm nào trong danh mục phân loại xanh quốc gia. Ở góc độ mô hình kinh doanh, Tiến sĩ Phạm Hồng Hải, Khoa Quản trị kinh doanh, Trường đại học Tài chính-Marketing cho rằng, khởi nghiệp xanh tại Việt Nam đang chịu áp lực kép: Vừa phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu giảm phát thải và bảo tồn tài nguyên. Trong bối cảnh đó, mô hình kinh doanh tuần hoàn không coi “xanh” là thuộc tính của sản phẩm, mà là cách doanh nghiệp tổ chức toàn bộ hệ thống hoạt động, từ chuỗi cung ứng, công nghệ sản xuất đến quan hệ đối tác và cơ chế phân phối giá trị.

Bộ Tài chính đã ban hành và triển khai Danh mục Phân loại xanh - một công cụ chính sách quan trọng nhằm nhận diện, đánh giá và thúc đẩy các dự án đầu tư thân thiện môi trường. Danh mục này bao gồm 45 loại hình dự án thuộc 7 nhóm ngành kinh tế trọng điểm như năng lượng tái tạo, giao thông xanh, xây dựng bền vững, nông nghiệp tuần hoàn và dịch vụ môi trường. Đây là bước tiến lớn trong việc thiết lập khung thể chế cho thị trường tài chính xanh, giúp huy động hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển bền vững.

Trong kỷ nguyên số, niềm tin thị trường được xây dựng bằng dữ liệu có thể kiểm chứng. Khi dữ liệu sản xuất và vận hành được minh bạch hóa, doanh nghiệp không chỉ mở rộng cơ hội tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và tiếp cận tài chính xanh, mà còn tạo lợi thế cạnh tranh để các startup Việt Nam bứt phá trong nền kinh tế xanh.

nhandan.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Đoàn Giám sát Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc với phường Yên Bái và xã Thác Bà về thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW

Đoàn Giám sát Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc với phường Yên Bái và xã Thác Bà về thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW

Tiếp tục chương trình công tác tại Lào Cai, sáng 4/11, Đoàn Giám sát số 140 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã làm việc với Ban Thường vụ Đảng ủy phường Yên Bái và xã Thác Bà về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Đoàn Giám sát Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc với Văn phòng Tỉnh ủy và Ban Tổ chức Tỉnh ủy

Đoàn Giám sát Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc với Văn phòng Tỉnh ủy và Ban Tổ chức Tỉnh ủy

Chiều 3/11, Đoàn Giám sát số 140 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương có buổi làm việc với Đảng ủy, cơ quan Văn phòng Tỉnh ủy và Ban Tổ chức Tỉnh ủy về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Lào Cai tập huấn Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và các văn bản hướng dẫn thi hành

Lào Cai tập huấn Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và các văn bản hướng dẫn thi hành

Sáng 3/11, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh (phường Yên Bái), UBND tỉnh Lào Cai tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và các văn bản hướng dẫn thi hành năm 2026 do Công an tỉnh chủ trì tham mưu. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối tới 99 điểm cầu xã, phường trên địa bàn tỉnh.

Đoàn giám sát Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính về thực hiện Nghị quyết 57

Đoàn giám sát Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính về thực hiện Nghị quyết 57

Chiều 2/11, tiếp tục chương trình làm việc, Đoàn giám sát số 140 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương có buổi làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị.

Đoàn giám sát Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai về thực hiện Nghị quyết 57

Đoàn giám sát Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai về thực hiện Nghị quyết 57

Sáng 2/11, Đoàn giám sát số 140 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương do đồng chí Phạm Thái Hà - Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Bí thư Đoàn xã tiên phong đưa chuyển đổi số đến với người dân

Bí thư Đoàn xã tiên phong đưa chuyển đổi số đến với người dân

Chị Bàn Thị Đào - Bí thư Đoàn Thanh niên xã Bảo Thắng đã phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ, có nhiều việc làm thiết thực góp phần từng bước giúp người dân làm chủ công nghệ, đưa chuyển đổi số vào đời sống. Chị cũng vừa vinh dự được Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trao tặng giải thưởng “Nguyễn Chí Thanh” năm 2026.

Bàn giải pháp phát triển kinh tế từ công nghệ số

Bàn giải pháp phát triển kinh tế từ công nghệ số

Chiều 30/10, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai phối hợp với Cục Công nghiệp, Công nghệ thông tin (Bộ Khoa học và Công nghệ), Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam tổ chức Hội thảo “Công nghệ số thúc đẩy phát triển kinh tế Lào Cai”. Hội thảo có chủ đề: “Giải pháp số cho Du lịch thông minh, Kinh tế cửa khẩu và Logistics”.

Khi dữ liệu số trở thành tài nguyên

Khi dữ liệu số trở thành tài nguyên

Dữ liệu số đang từng bước phát huy giá trị trong quản lý, điều hành và giải quyết thủ tục hành chính tại Lào Cai. Việc số hóa, chuẩn hóa dữ liệu không chỉ nâng cao hiệu quả công việc mà còn tiết kiệm thời gian, tạo thuận lợi cho người dân, tổ chức.

Đưa kỹ năng số đến gần dân

Đưa kỹ năng số đến gần dân

Từ nhà văn hóa thôn đến từng hộ gia đình, những buổi hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến đang giúp người dân Lào Cai làm quen với các tiện ích số. Cùng với đầu tư hạ tầng, các địa phương chú trọng phổ cập kỹ năng theo cách dễ hiểu, dễ thực hành, nhất là ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

fb yt zl tw