Theo đó, đến năm 2030, tỉnh phấn đấu xây dựng, thử nghiệm và chuyển giao từ 5 - 10 mô hình ứng dụng công nghệ sinh học trong các lĩnh vực trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, sơ chế, bảo quản, chế biến và xử lý chất thải. Các mô hình phải bảo đảm hiệu quả, có địa chỉ tiếp nhận và khả năng nhân rộng, gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, hợp tác xã và vùng sản xuất.
Cùng với đó, Lào Cai đặt mục tiêu nghiên cứu, tuyển chọn, phục tráng, hoàn thiện hoặc chuyển giao từ 5 - 8 giống, nguồn giống có giá trị, phù hợp điều kiện sinh thái của tỉnh. Các đối tượng ưu tiên gồm lúa, chè, quế, cây ăn quả ôn đới, dược liệu, cây lâm nghiệp và một số giống vật nuôi, thủy sản chủ lực, bản địa.
Tỉnh cũng phấn đấu chuẩn hóa, từng bước số hóa tối thiểu 5 vùng sản xuất tập trung ứng dụng công nghệ, ưu tiên vùng dược liệu, quế, chè và cây trồng chủ lực; gắn với mã số vùng trồng, tiêu chuẩn chất lượng, dữ liệu vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc. Đặc biệt, 100% mô hình chăn nuôi, thủy sản thuộc Kế hoạch phải áp dụng các biện pháp an toàn sinh học phù hợp.
Giai đoạn 2031 - 2035, mục tiêu được nâng lên với 15 - 20 mô hình ứng dụng công nghệ sinh học được triển khai và nhân rộng; hình thành 3 - 5 chuỗi giá trị hoặc nhóm sản phẩm công nghiệp sinh học chủ lực, có khả năng cung ứng ổn định cho thị trường trong nước và từng bước tiếp cận thị trường xuất khẩu.
Để thực hiện, tỉnh xác định đẩy mạnh liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất; ưu tiên nghiên cứu, chuyển giao những công nghệ có khả năng ứng dụng, thương mại hóa, tránh đầu tư dàn trải, trùng lặp. Qua đó, từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp sinh học, tạo động lực phát triển nông nghiệp xanh, sinh thái, tuần hoàn và phát thải thấp.