Từ lợi thế vùng chè đến những khó khăn trong sản xuất
Gia đình ông Nguyễn Văn Xiếm, thôn Pèng 1, xã Hợp Thành, đã gắn bó với cây chè từ năm 2012. Trên diện tích gần 1 ha, trong đó khoảng một nửa là giống Kim Tuyên, gia đình ông duy trì sản xuất, đồng thời thu mua chè búp tươi của người dân trong xã để chế biến và tiêu thụ. Mỗi năm, lượng chè ông thu mua đạt hơn 10 tấn. Hoạt động này không chỉ tạo nguồn nguyên liệu cho gia đình mà còn góp phần giúp các hộ trồng chè có thêm đầu ra cho sản phẩm.
Dù vậy, việc tiêu thụ vẫn chủ yếu dựa vào các mối khách hàng quen, quy mô thị trường chưa lớn. Giá trị chè búp tươi vì thế chưa thực sự ổn định, ảnh hưởng đến động lực đầu tư, chăm sóc của người trồng chè.
Ông Nguyễn Văn Xiếm, thôn Pèng 1, xã Hợp Thành chia sẻ: “Rất mong muốn chính quyền địa phương giúp đỡ để giới thiệu, quảng bá và tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm của bà con, từ đó giúp tăng giá trị của chè búp tươi lên, giá trị nâng cao sẽ góp phần giúp bà con đỡ vất vả và chuyên tâm hơn trong việc chăm sóc và thu hái”.
Một lợi thế của chè Hợp Thành là điều kiện sinh thái vùng cao cùng sự hiện diện của hai giống chè Kim Tuyên và Tuyết Shan. Theo kết quả điều tra xây dựng nhãn hiệu chứng nhận, trong số các hộ được khảo sát, 50,8% trồng giống Kim Tuyên, 37,5% trồng Tuyết Shan và 11,7% trồng cả hai giống. Đây là cơ sở để hình thành những sản phẩm có đặc trưng riêng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường.
Trong quá trình canh tác, nhiều hộ dân vẫn duy trì phương thức chăm sóc truyền thống, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Bà Đào Thị Hòa, thôn Pèng 1, xã Hợp Thành cho biết: “Cây chè trên địa bàn được bà con chủ yếu trồng hữu cơ, không dùng thuốc trừ cỏ, không dùng thuốc bảo vệ thực vật, nên chất lượng cũng được đánh giá cao”.
Tuy nhiên, sản xuất chè ở địa phương vẫn còn không ít khó khăn. Báo cáo đánh giá thực trạng cho thấy, phần lớn hộ sản xuất có quy mô không lớn, diện tích chè nằm trên sườn đồi có độ dốc, việc chăm sóc và thu hái phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, nhân lực. Năng suất còn thấp, chi phí thu gom, vận chuyển cao; kỹ thuật canh tác và chất lượng sản phẩm giữa các hộ chưa đồng đều.
Đáng chú ý, khâu chế biến, bảo quản, đóng gói, bao bì, nhãn mác và truy xuất nguồn gốc còn hạn chế. Sự liên kết giữa người trồng chè, cơ sở chế biến và đơn vị tiêu thụ chưa chặt chẽ. Nhiều hộ vẫn tự chế biến, bán sản phẩm theo các mối quen nên khả năng tiếp cận thị trường lớn còn hạn chế. Đây là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ nếu muốn nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm chè địa phương.
Xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ
Một dấu mốc quan trọng trong hành trình phát triển cây chè Hợp Thành là sản phẩm được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận “Chè Hợp Thành - Lào Cai” vào tháng 9/2026. Đây không chỉ là sự ghi nhận đối với sản phẩm chè địa phương mà còn tạo cơ sở pháp lý để nhận diện nguồn gốc, quản lý chất lượng và xây dựng uy tín trên thị trường.
Việc xây dựng nhãn hiệu chứng nhận được triển khai cùng với các nội dung như xác định vùng địa lý sản xuất, xây dựng tiêu chí chất lượng, quy trình kỹ thuật sản xuất và chế biến, quy chế quản lý, sử dụng nhãn hiệu. Dự án cũng xây dựng hệ thống nhận diện gồm logo, tem, nhãn, bao bì sản phẩm và các công cụ phục vụ quảng bá, xúc tiến thương mại. Đặc biệt, đã có 9 tổ chức, cá nhân đủ điều kiện được lựa chọn thí điểm cấp quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận.
Những kết quả này tạo nền tảng để chè Hợp Thành từng bước chuyển từ sản xuất, tiêu thụ theo phương thức truyền thống sang hướng sản xuất có tiêu chuẩn, có nhận diện và có kiểm soát chất lượng. Tuy nhiên, thương hiệu chỉ thực sự phát huy giá trị khi được gắn với chất lượng sản phẩm ổn định, quy trình sản xuất thống nhất và thị trường tiêu thụ phù hợp.
Theo định hướng trong báo cáo, địa phương cần tập trung tổ chức lại vùng nguyên liệu, xác định rõ nguồn gốc sản phẩm, khuyến khích các hộ liên kết với hợp tác xã và cơ sở chế biến. Cùng với đó là hướng dẫn người dân áp dụng kỹ thuật chăm sóc, thu hái, sơ chế phù hợp; cải thiện điều kiện vệ sinh, bảo quản, đóng gói và tăng cường truy xuất nguồn gốc. Thay vì mở rộng diện tích một cách dàn trải, mục tiêu quan trọng hơn là nâng năng suất, chất lượng và giá trị thu được trên mỗi đơn vị diện tích.
Ông Khương Mạnh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã Hợp Thành cho biết: “Trong thời gian tới xã định hướng mở rộng cái thị trường tiêu thụ sản phẩm cho bà con nhân dân. Trong đó thì sẽ phối hợp với các sở, ban, ngành và các xã, phường để tích cực đem sản phẩm chè đi quảng bá tại các hội chợ thương mại, đồng thời tích cực quảng bá sản phẩm trên các nền tảng số”.
Cùng với hoạt động quảng bá, việc hình thành các mối liên kết ổn định giữa người trồng chè, cơ sở chế biến và đơn vị phân phối sẽ có ý nghĩa quan trọng. Khi vùng nguyên liệu được quản lý, sản phẩm đáp ứng các tiêu chí chất lượng và có kênh tiêu thụ bền vững, người trồng chè mới có cơ hội nâng cao thu nhập từ chính diện tích sản xuất hiện có.
Tìm lại giá trị cây chè ở vùng cao Hợp Thành vì thế không chỉ dừng lại ở việc xây dựng một nhãn hiệu được bảo hộ. Mà còn là quá trình thay đổi phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng, tăng cường liên kết và chủ động tìm kiếm thị trường. Khi thương hiệu được gắn với chất lượng thực chất và lợi ích của người trồng chè, cây chè sẽ có thêm động lực phát triển, tiếp tục góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và thúc đẩy kinh tế địa phương.