Sau cú bán tháo mạnh trên thị trường quốc tế, giá vàng trong nước tiếp tục điều chỉnh để thu hẹp khoảng cách. Chỉ trong hai ngày, giá bán SJC đã giảm 3,7 triệu đồng/lượng, trong khi nhiều dòng vàng nhẫn và nữ trang cũng mất từ 2 đến 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay 31/10: Vàng thế giới xuống thấp nhất trong khoảng một năm
Giá vàng sáng 31/10 giảm mạnh ở cả trong nước và thế giới. SJC mất 1,3 triệu đồng/lượng, còn vàng quốc tế rơi xuống khoảng 3.876 USD/ounce.
SJC giảm thêm 2,4 triệu đồng/lượng
Sáng 1/11, Công ty SJC niêm yết vàng miếng tại TP.HCM và miền Bắc ở mức 136 triệu đồng/lượng mua vào và 139 triệu đồng/lượng bán ra.
So với ngày 31/10, cả hai chiều cùng giảm tới 2,4 triệu đồng/lượng. Khoảng cách mua - bán duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng SJC ngày 1/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Khu vực | Mua vào | Bán ra | So với 31/10 |
|---|---|---|---|
| TP.HCM | 136,00 | 139,00 | -2,40 / -2,40 |
| Miền Bắc | 136,00 | 139,00 | -2,40 / -2,40 |
Đà giảm đang diễn ra với tốc độ khá nhanh. Ngày 30/10, giá bán SJC vẫn ở 142,7 triệu đồng/lượng; đến sáng 1/11 chỉ còn 139 triệu đồng/lượng, tức giảm 3,7 triệu đồng/lượng trong hai ngày.
Nếu so với vùng 144,8 triệu đồng/lượng từng xuất hiện trong tháng 10, giá bán SJC hiện đã thấp hơn 5,8 triệu đồng/lượng.
Tại DOJI, vàng miếng SJC cũng giảm 2,4 triệu đồng/lượng, xuống 136–139 triệu đồng/lượng.
KIM TT/AVPL và nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng giảm 2 triệu đồng/lượng, còn 134 - 138 triệu đồng/lượng.
Vàng nguyên liệu và nữ trang DOJI giảm phổ biến 1,5 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng DOJI ngày 1/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 31/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 136,00 | 139,00 | -2,40 / -2,40 |
| KIM TT/AVPL | 134,00 | 138,00 | -2,00 / -2,00 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 134,00 | 138,00 | -2,00 / -2,00 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 128,50 | 130,50 | -1,50 / -1,50 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 128,00 | 130,00 | -1,50 / -1,50 |
| Nữ trang 9999 | 132,50 | 136,50 | -1,50 / -1,50 |
| Nữ trang 999 | 132,00 | 136,00 | -1,50 / -1,50 |
| Nữ trang 99 | 130,20 | 134,50 | -1,50 / -1,50 |
PNJ cũng hạ giá vàng miếng SJC 999.9 xuống 136–139 triệu đồng/lượng, giảm 2,4 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều.
Nhẫn trơn PNJ 999.9, Kim Bảo, Phúc Lộc Tài và PNJ - Phượng Hoàng cùng giảm 2,4 triệu đồng/lượng, còn 133,6 - 137,6 triệu đồng/lượng.
Mức giảm mạnh nhất xuất hiện ở nhóm vàng nữ trang. Vàng nữ trang 999.9 mất 3 triệu đồng/lượng, xuống còn 130,5 - 135 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng PNJ ngày 1/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 31/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 136,00 | 139,00 | -2,40 / -2,40 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 133,60 | 137,60 | -2,40 / -2,40 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 133,60 | 137,60 | -2,40 / -2,40 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 133,60 | 137,60 | -2,40 / -2,40 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 133,60 | 137,60 | -2,40 / -2,40 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 130,50 | 135,00 | -3,00 / -3,00 |
| Vàng nữ trang 999 | 130,37 | 134,87 | khoảng -2,99 / -2,99 |
| Vàng nữ trang 9920 | 127,72 | 133,92 | khoảng -2,98 / -2,98 |
| Vàng nữ trang 99 | 127,45 | 133,65 | khoảng -2,97 / -2,97 |
Bảo Tín Minh Châu niêm yết BTMC SJC ở mức 133,8 triệu đồng/lượng mua vào và 139 triệu đồng/lượng bán ra.
Cả hai chiều cùng giảm 2,4 triệu đồng/lượng so với ngày 31/10. Chênh lệch mua - bán vẫn khá rộng, ở mức 5,2 triệu đồng/lượng.
Bảng giá Bảo Tín Minh Châu ngày 1/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 31/10 |
|---|---|---|---|
| BTMC SJC | 133,80 | 139,00 | -2,40 / -2,40 |
Tại Phú Quý, vàng miếng SJC giảm về 134,5–139 triệu đồng/lượng. So với ngày trước, chiều mua giảm 2,5 triệu đồng và chiều bán giảm 2,4 triệu đồng/lượng.
Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 giảm 2,5 triệu đồng/lượng xuống 134,5–137,5 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng Phú Quý ngày 1/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 31/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 134,50 | 139,00 | -2,50 / -2,40 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 134,50 | 137,50 | -2,50 / -2,50 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 134,50 | 137,50 | -2,50 / -2,50 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 134,40 | 137,40 | -2,50 / -2,50 |
| Vàng trang sức 999.9 | 132,00 | 136,50 | -2,50 / -2,00 |
| Vàng trang sức 999 | 131,90 | 136,40 | -2,50 / -2,00 |
| Vàng trang sức 99 | 130,68 | 135,14 | khoảng -2,48 / -1,98 |
Có thể thấy thị trường trong nước sáng đầu tháng 11 giảm rất đồng đều ở nhóm vàng miếng. SJC, DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu và Phú Quý đều đưa giá bán vàng miếng về 139 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, vàng nhẫn phổ biến ở khoảng 137,5 - 138 triệu đồng/lượng, thấp hơn vàng miếng khoảng 1 - 1,5 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán vẫn khá lớn. SJC, DOJI và PNJ vàng miếng chênh khoảng 3 triệu đồng/lượng, Phú Quý khoảng 4,5 triệu đồng, còn Bảo Tín Minh Châu lên tới 5,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thế giới 1/11 không có phiên mới
Một điểm cần phân biệt rõ là ngày 1/11/2026 rơi vào Chủ nhật. Thị trường vàng quốc tế đang nghỉ cuối tuần, vì vậy mức 3.876 USD/ounce sáng nay không phải giá hình thành từ một phiên giao dịch mới.
Theo dữ liệu tham chiếu, vàng đang ở khoảng 3.876 USD/ounce, với vùng dao động cuối phiên trước từ khoảng 3.870 đến 4.026 USD/ounce.
Phiên cuối tuần vừa qua là một trong những phiên giảm mạnh nhất của vàng trong thời gian gần đây.
Vàng giao ngay đã giảm khoảng 3,5%, xuống vùng thấp nhất kể từ tháng 10/2025. Giá cũng chính thức xuyên thủng cả hai mốc tâm lý quan trọng 4.000 USD và 3.900 USD/ounce.
Một trong những yếu tố đáng chú ý là đợt bán tháo mạnh của cổ phiếu công nghệ Mỹ. Lo ngại chi tiêu cho trí tuệ nhân tạo quá lớn trong khi hiệu quả đầu tư chưa rõ ràng khiến nhóm công nghệ giảm sâu.
Khi thị trường chứng khoán biến động mạnh, một bộ phận nhà đầu tư có thể phải bán cả vàng để bổ sung tiền mặt cho các yêu cầu ký quỹ. Điều này khiến vàng không phát huy vai trò trú ẩn như thông thường trong phiên vừa qua.
Cùng lúc đó, môi trường lãi suất vẫn bất lợi đối với kim loại quý.
GDP Mỹ quý III tăng 3,4% theo tốc độ năm, trong khi chi tiêu tiêu dùng tăng 3,8%. PCE tháng 9 tăng 3,6% so với cùng kỳ, cao hơn mức 3,4% của tháng trước.
Sự kết hợp giữa tăng trưởng mạnh và lạm phát dai dẳng khiến thị trường tiếp tục nghiêng về khả năng Fed phải tăng lãi suất thêm.
Sau khi Fed giữ lãi suất ở 3,75–4% trong tháng 10, thị trường đang đánh giá khoảng 80% khả năng ngân hàng trung ương Mỹ nâng thêm 0,25 điểm phần trăm trong cuộc họp ngày 8–9/12.
Đây vẫn là một trong những lực cản lớn nhất đối với giá vàng.
Giá dầu cao tiếp tục gây áp lực lên triển vọng lạm phát
Rủi ro năng lượng cũng chưa giảm.
Dầu Brent kết phiên cuối tháng 10 ở 117,64 USD/thùng, tăng 2,4% trong ngày. WTI tăng hơn 2% lên 104,12 USD/thùng.
Riêng trong tháng 10, Brent tăng 13,6%, còn WTI tăng 15,2%.
Thị trường tiếp tục lo ngại về nguồn cung Trung Đông sau các vụ tấn công nhằm vào hoạt động vận tải và cơ sở hạ tầng năng lượng, trong đó một tàu chở dầu tại eo biển Hormuz bị tấn công bằng thiết bị nổ.
Giá năng lượng cao kéo dài có thể tiếp tục đẩy chi phí sản xuất và vận tải tăng lên, khiến Fed khó nhanh chóng đưa lạm phát về mục tiêu 2%.
Diễn biến mới nhất từ OPEC+ cho thấy nhóm này đã đạt đồng thuận về nguyên tắc giữ nguyên mục tiêu sản lượng trong tháng 12. Điều này có thể phần nào hạn chế biến động từ phía chính sách nguồn cung, nhưng rủi ro địa chính trị vẫn là biến số lớn.
Dự báo giá vàng 1/11: Trong nước có thể chậm lại sau hai ngày giảm sâu
Do thị trường thế giới nghỉ cuối tuần, giá vàng quốc tế trong ngày Chủ nhật 1/11 nhiều khả năng tiếp tục được tham chiếu quanh vùng đóng cửa cuối tuần, thay vì hình thành một xu hướng mới.
Điểm cần quan tâm sẽ chuyển sang phiên mở cửa đầu tuần ngày 2/11.
Sau khi giá giảm về vùng 3.870 USD/ounce, khu vực 3.850–3.870 USD có thể được xem là vùng hỗ trợ gần.
Nếu lực mua bắt đáy xuất hiện khi thị trường mở cửa trở lại, giá có thể hồi lên 3.900 - 3.920 USD/ounce.
Nếu vượt được vùng này, khu vực 3.950 - 3.970 USD sẽ là ngưỡng cản tiếp theo. Mốc 4.000 USD hiện đã chuyển thành kháng cự tâm lý lớn.
Ngược lại, nếu vàng tiếp tục xuyên xuống dưới 3.850 USD, vùng 3.800–3.820 USD/ounce sẽ trở thành khu vực cần theo dõi.
Xu hướng ngắn hạn vì vậy vẫn nghiêng về thận trọng, nhưng sau một phiên giảm hơn 3%, khả năng xuất hiện nhịp hồi kỹ thuật đầu tuần không thể loại trừ.
Đối với vàng trong nước, giá SJC đã giảm tổng cộng 3,7 triệu đồng/lượng chỉ trong hai ngày và xuống còn 139 triệu đồng/lượng.
Sau một nhịp điều chỉnh nhanh như vậy, tốc độ giảm trong ngày 1/11 có thể chậm lại nếu giá thế giới không có thêm tín hiệu mới.
Kịch bản cơ sở là giá bán SJC dao động quanh 138,5 - 139,8 triệu đồng/lượng trong ngày.
Nếu thị trường trong nước xuất hiện lực mua bắt đáy, giá có thể giữ được vùng 139 triệu đồng hoặc hồi nhẹ về 139,5 - 140 triệu đồng/lượng.
Ngược lại, nếu các doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh để phản ánh đầy đủ cú giảm quốc tế cuối tuần, giá bán SJC có thể lùi về vùng 138 - 138,5 triệu đồng/lượng.
Đối với phiên đầu tuần 2/11, nếu vàng quốc tế phục hồi trở lại trên 3.920 USD, khả năng SJC lấy lại vùng 140 triệu đồng/lượng sẽ tăng.
Nếu vàng thế giới giảm dưới 3.850 USD, thị trường trong nước có thể tiếp tục chịu sức ép.
Nhìn tổng thể, vàng đang ở giai đoạn biến động rất mạnh. Giá quốc tế rơi xuống vùng thấp nhất khoảng một năm trong khi SJC chỉ trong hai ngày mất gần 4 triệu đồng/lượng.
Tuy vậy, một phiên giảm sâu thường đi kèm khả năng xuất hiện lực mua bắt đáy. Vì thế, vùng 3.850–3.900 USD/ounce của vàng thế giới và vùng 138–139 triệu đồng/lượng của SJC sẽ là những mốc đáng chú ý trong những phiên đầu tháng 11.