Giá vàng hôm nay 29/10: SJC tăng mạnh dù vàng thế giới lùi nhẹ

Giá vàng trong nước sáng 29/10 tăng mạnh, SJC lên 139,7–142,7 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới giảm nhẹ về 4.054 USD/ounce sau khi Fed giữ nguyên lãi suất.

0:00 / 0:00
0:00

Quyết định giữ lãi suất của Fed đúng như dự báo giúp đồng USD hạ nhiệt, song triển vọng tăng lãi suất tháng 12 và giá dầu vẫn ở vùng cao khiến vàng thế giới chưa thể bứt phá. Trái lại, thị trường trong nước sáng nay tăng rõ rệt ở vàng miếng và nhiều dòng vàng trang sức.

gia-vang-hom-nay-29-6699.jpg
Hình minh họa.

Giá vàng trong nước tăng mạnh, SJC lên 142,7 triệu đồng/lượng

Sáng 29/10, Công ty SJC niêm yết vàng miếng tại TP.HCM và miền Bắc ở mức 139,7 triệu đồng/lượng mua vào và 142,7 triệu đồng/lượng bán ra.

So với ngày 28/10, cả hai chiều cùng tăng 700.000 đồng/lượng. Khoảng cách mua - bán tiếp tục duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.

Bảng giá vàng SJC ngày 29/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng

Khu vực Mua vào Bán ra So với 28/10
TP.HCM 139,70 142,70 +0,70 / +0,70
Miền Bắc 139,70 142,70 +0,70 / +0,70

Sau khi tăng 300.000 đồng/lượng trong ngày 28/10, SJC tiếp tục đi lên và tăng thêm 700.000 đồng sáng nay. Như vậy, chỉ trong hai ngày, giá bán vàng miếng đã phục hồi tổng cộng 1 triệu đồng/lượng, từ 141,7 triệu lên 142,7 triệu đồng/lượng.

DOJI cũng nâng vàng miếng SJC thêm 700.000 đồng/lượng, lên 139,7–142,7 triệu đồng/lượng.

KIM TT/AVPL và nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tăng 300.000 đồng/lượng, lên 137,6–141,6 triệu đồng/lượng.

Nhóm nữ trang DOJI tăng mạnh hơn, phổ biến khoảng 800.000 đồng/lượng.

Bảng giá vàng DOJI ngày 29/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng

Sản phẩm Mua vào Bán ra So với 28/10
Vàng miếng SJC 139,70 142,70 +0,70 / +0,70
KIM TT/AVPL 137,60 141,60 +0,30 / +0,30
Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng 137,60 141,60 +0,30 / +0,30
Vàng nguyên liệu 9999 131,50 132,50 +0,80 / -0,20
Vàng nguyên liệu 999 131,00 132,00 +0,80 / -0,20
Nữ trang 9999 135,50 139,50 +0,80 / +0,80
Nữ trang 999 135,00 139,00 +0,80 / +0,80
Nữ trang 99 133,20 137,50 +0,80 / +0,80

Đáng chú ý, vàng nguyên liệu tại DOJI có diễn biến khác biệt: giá mua tăng 800.000 đồng/lượng nhưng giá bán lại giảm khoảng 200.000 đồng. Điều này khiến khoảng cách giữa hai chiều thu hẹp đáng kể.

Tại PNJ, vàng miếng SJC 999.9 cũng tăng 700.000 đồng/lượng, lên 139,7–142,7 triệu đồng/lượng.

Riêng nhóm vàng nhẫn có diễn biến khá đặc biệt. Giá mua nhẫn trơn PNJ 999.9 giảm 600.000 đồng/lượng xuống 137 triệu đồng, nhưng giá bán lại tăng 400.000 đồng lên 141 triệu đồng/lượng.

Khoảng cách mua - bán của vàng nhẫn PNJ vì vậy nới từ 3 triệu lên 4 triệu đồng/lượng.

Bảng giá vàng PNJ ngày 29/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng

Sản phẩm Mua vào Bán ra So với 28/10
Vàng miếng SJC 999.9 139,70 142,70 +0,70 / +0,70
Nhẫn trơn PNJ 999.9 137,00 141,00 -0,60 / +0,40
Vàng Kim Bảo 999.9 137,00 141,00 -0,60 / +0,40
Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 137,00 141,00 -0,60 / +0,40
PNJ - Phượng Hoàng 137,00 141,00 -0,60 / +0,40
Vàng nữ trang 999.9 134,70 139,20 +1,20 / +1,20
Vàng nữ trang 999 134,56 139,06 +1,20 / +1,20
Vàng nữ trang 9920 131,89 138,09 khoảng +1,19 / +1,19
Vàng nữ trang 99 131,61 137,81 khoảng +1,19 / +1,19

Bảo Tín Minh Châu tăng BTMC SJC lên 137,4 triệu đồng/lượng mua vào và 142,7 triệu đồng/lượng bán ra.

So với ngày trước, chiều mua tăng 400.000 đồng, trong khi chiều bán tăng 700.000 đồng/lượng.

Khoảng cách mua - bán theo đó nới lên tới 5,3 triệu đồng/lượng.

Bảng giá Bảo Tín Minh Châu ngày 29/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng

Sản phẩm Mua vào Bán ra So với 28/10
BTMC SJC 137,40 142,70 +0,40 / +0,70

Phú Quý cũng tăng giá khá rõ.

Vàng miếng SJC tăng 700.000 đồng/lượng ở chiều mua và 1 triệu đồng/lượng ở chiều bán, lên 138,2–142,7 triệu đồng/lượng.

Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 tăng 700.000 đồng/lượng, lên 138,2–141,2 triệu đồng/lượng.

Nhóm vàng trang sức tăng khoảng 1 triệu đồng/lượng.

Bảng giá vàng Phú Quý ngày 29/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng

Sản phẩm Mua vào Bán ra So với 28/10
Vàng miếng SJC 138,20 142,70 +0,70 / +1,00
Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 138,20 141,20 +0,70 / +0,70
Phú Quý 1 lượng 999.9 138,20 141,20 +0,70 / +0,70
Phú Quý 1 lượng 99.9 138,10 141,10 +0,70 / +0,70
Vàng trang sức 999.9 136,00 140,00 +1,00 / +1,00
Vàng trang sức 999 135,90 139,90 +1,00 / +1,00
Vàng trang sức 99 134,64 138,60 khoảng +0,99 / +0,99

Nhìn tổng thể, thị trường vàng trong nước sáng 29/10 chuyển sang trạng thái tăng khá rõ. Giá bán vàng miếng SJC tại SJC, DOJI, PNJ, BTMC và Phú Quý cùng lên 142,7 triệu đồng/lượng.

Tuy nhiên, diễn biến của vàng nhẫn vẫn phân hóa. DOJI tăng lên 141,6 triệu đồng/lượng, Phú Quý lên 141,2 triệu đồng, trong khi PNJ bán ở 141 triệu đồng nhưng giảm khá mạnh giá mua.

Điều này cho thấy các doanh nghiệp vẫn duy trì mức phòng thủ khá lớn ở chiều mua vào, đặc biệt trong bối cảnh vàng thế giới chưa xác nhận được một xu hướng tăng mới.

Vàng thế giới giảm nhẹ sau khi Fed giữ nguyên lãi suất

Theo dữ liệu cập nhật sáng 29/10, vàng thế giới ở khoảng 4.054 USD/ounce, giảm 9 USD so với mức 4.063 USD/ounce ngày trước, tương đương khoảng 0,22%.

Biên độ đầu ngày dao động trong khoảng 4.051–4.069 USD/ounce.

Diễn biến này xuất hiện sau khi Fed quyết định giữ lãi suất mục tiêu ở 3,75–4%, đúng với dự báo của thị trường.

Fed cho biết lạm phát vẫn ở mức cao và cần thêm dữ liệu trước khi quyết định hướng đi tiếp theo. Hai thành viên của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang thậm chí bỏ phiếu ủng hộ tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.

Chủ tịch Fed Kevin Warsh cho rằng kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng mạnh nhưng chưa rơi vào tình trạng quá nóng. Ông cũng nhận định năng suất được cải thiện có thể giúp nền kinh tế tăng trưởng mà không nhất thiết làm lạm phát tăng mạnh hơn.

Phản ứng của thị trường tài chính sau quyết định tương đối hạn chế. Đồng USD giảm khoảng 0,2%, lợi suất trái phiếu ngắn hạn hạ nhẹ nhưng lợi suất kỳ hạn dài lại tăng, cho thấy giới đầu tư vẫn thận trọng với triển vọng lạm phát.

Điểm đáng chú ý là Fed chưa đóng cánh cửa tăng lãi suất tháng 12. Thị trường hiện vẫn định giá khoảng 80% khả năng ngân hàng trung ương Mỹ nâng lãi suất tại cuộc họp ngày 8–9/12.

Đây là nguyên nhân khiến vàng chưa thể bứt phá mạnh dù USD suy yếu sau quyết định của Fed.

Lãi suất càng cao, chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng càng lớn. Vì vậy, giá vàng có thể tiếp tục nhạy cảm với mọi dữ liệu có khả năng thay đổi kỳ vọng về cuộc họp tháng 12.

Tâm điểm tiếp theo là chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân PCE của Mỹ, dữ liệu lạm phát được Fed đặc biệt quan tâm. Thị trường trước cuộc họp Fed đã xác định báo cáo PCE là một trong những dữ liệu then chốt để đánh giá đường đi của lãi suất.

Giá năng lượng cũng tiếp tục gây áp lực.

Dầu Brent kết phiên mới nhất tăng khoảng 1% lên 115,32 USD/thùng, trong khi WTI tăng khoảng 3% lên 102,78 USD/thùng sau những diễn biến mới tại Yemen và lo ngại liên quan tới nguồn cung Saudi Arabia.

Tồn kho dầu thô Mỹ đồng thời giảm 1,9 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 23/10, trái với kỳ vọng tăng nhẹ của giới phân tích. Diễn biến này góp phần duy trì sức ép lên giá năng lượng.

Dầu duy trì trên 115 USD/thùng có thể khiến áp lực giá trong nền kinh tế Mỹ kéo dài hơn, từ đó củng cố khả năng Fed phải tiếp tục tăng lãi suất. Đây vẫn là lực cản đáng kể đối với vàng trong ngắn hạn.

Dự báo giá vàng 29/10: SJC có thể giữ vùng cao, vàng thế giới chờ PCE

Với mức khoảng 4.054 USD/ounce sáng nay, vàng thế giới vẫn đứng khá vững trên mốc tâm lý 4.000 USD nhưng chưa vượt được khu vực 4.070 USD.

Vùng 4.040–4.050 USD/ounce có thể được theo dõi như hỗ trợ gần.

Nếu giá giữ được khu vực này, vàng có khả năng quay lại kiểm tra 4.065–4.075 USD/ounce.

Vượt được vùng 4.075 USD, giá có thể hướng đến 4.090–4.100 USD/ounce. Đây là khu vực quan trọng để đánh giá liệu nhịp phục hồi từ dưới 4.000 USD có đủ sức chuyển thành xu hướng tăng rõ hơn hay không.

Nếu giá vượt chắc 4.100 USD, vùng 4.125–4.150 USD/ounce có thể trở thành mục tiêu tiếp theo.

Ở chiều ngược lại, nếu vàng giảm xuống dưới 4.040 USD, vùng 4.020–4.030 USD/ounce sẽ là hỗ trợ kế tiếp.

Nếu áp lực bán tiếp tục gia tăng và 4.020 USD không giữ được, mốc 4.000 USD/ounce sẽ trở lại vùng phòng thủ quan trọng.

Biên độ tham khảo trong ngắn hạn có thể nằm khoảng 4.020–4.100 USD/ounce.

Sau quyết định của Fed, yếu tố quyết định tiếp theo sẽ là dữ liệu lạm phát. Nếu PCE thấp hơn kỳ vọng, khả năng tăng lãi suất tháng 12 có thể giảm, giúp USD và lợi suất hạ nhiệt, từ đó hỗ trợ vàng.

Ngược lại, nếu PCE tiếp tục cho thấy lạm phát dai dẳng, kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm có thể mạnh thêm và kéo vàng trở lại vùng 4.000–4.030 USD/ounce.

Đối với thị trường trong nước, SJC đã tăng khá nhanh lên 142,7 triệu đồng/lượng.

Nếu vàng thế giới giữ được vùng 4.050–4.070 USD, giá bán SJC có thể tiếp tục dao động quanh 142,5–143,2 triệu đồng/lượng.

Nếu vàng quốc tế vượt 4.100 USD/ounce, giá bán SJC có thể kiểm tra vùng 143,5–144 triệu đồng/lượng.

Ngược lại, nếu vàng thế giới lùi trở lại dưới 4.020 USD, giá SJC có thể chịu áp lực điều chỉnh về khoảng 142–142,5 triệu đồng/lượng.

Kịch bản tham khảo trong ngày 29/10 là giá bán SJC dao động quanh 142,2–143,3 triệu đồng/lượng.

Dù giá đang tăng, người mua ngắn hạn vẫn cần chú ý mức chênh mua - bán. SJC, DOJI và PNJ đang duy trì khoảng 3 triệu đồng/lượng; Phú Quý lên 4,5 triệu đồng, còn BTMC lên tới 5,3 triệu đồng/lượng.

Mức chênh lớn đồng nghĩa giá vàng phải tăng đáng kể mới đủ bù phần chênh lệch nếu người mua cần bán lại trong thời gian ngắn.

Nhìn tổng thể, tín hiệu sáng 29/10 khá tích cực đối với thị trường trong nước, nhưng vàng quốc tế vẫn đang trong trạng thái giằng co sau quyết định của Fed.

Việc Fed giữ nguyên lãi suất giúp vàng tránh thêm một cú sốc ngay lập tức, nhưng kỳ vọng tăng lãi suất tháng 12, giá dầu cao và dữ liệu PCE sắp công bố khiến khả năng biến động mạnh vẫn còn.

gia-vang-hom-nay-29-10.jpg

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

fb yt zl tw