Đà bán tháo trên thị trường quốc tế chưa dừng lại khi giá dầu tăng mạnh làm gia tăng lo ngại lạm phát và lãi suất cao kéo dài. Trong nước, vàng miếng giảm nhẹ hơn nhưng nhiều dòng vàng nhẫn, vàng nguyên liệu và nữ trang điều chỉnh khá mạnh.
Giá vàng hôm nay 23/10: Vàng thế giới giảm hơn 2,5%, SJC vẫn đứng giá
Giá vàng thế giới sáng 23/10 giảm mạnh về 4.028 USD/ounce, mất hơn 100 USD chỉ sau một ngày. Trong nước, SJC vẫn giữ mức 139,3 - 142,3 triệu đồng/lượng.
SJC giảm còn 142 triệu đồng/lượng, nhiều dòng vàng giảm sâu hơn
Sáng 24/10, vàng miếng SJC tại TP.HCM và miền Bắc được niêm yết ở mức 139 triệu đồng/lượng mua vào và 142 triệu đồng/lượng bán ra.
So với ngày 23/10, cả hai chiều cùng giảm 300.000 đồng/lượng. Khoảng cách mua - bán tiếp tục duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng SJC ngày 24/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Khu vực | Mua vào | Bán ra | So với 23/10 |
|---|---|---|---|
| TP.HCM | 139,00 | 142,00 | -0,30 / -0,30 |
| Miền Bắc | 139,00 | 142,00 | -0,30 / -0,30 |
Như vậy, từ mức bán ra 143,6 triệu đồng/lượng ngày 19/10, SJC đã mất 1,6 triệu đồng/lượng. So với vùng 144,8 triệu đồng/lượng từng ghi nhận trong nửa đầu tháng, mức hiện tại thấp hơn 2,8 triệu đồng/lượng.
Tại DOJI, vàng miếng SJC cũng giảm 300.000 đồng/lượng xuống 139–142 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn giảm mạnh hơn. KIM TT/AVPL và nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng cùng mất 700.000 đồng/lượng, xuống 137,5–141,5 triệu đồng/lượng.
Đáng chú ý, vàng nguyên liệu tại DOJI giảm 2,2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều. Nhóm nữ trang cũng giảm mạnh ở chiều mua.
Bảng giá vàng DOJI ngày 24/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 23/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 139,00 | 142,00 | -0,30 / -0,30 |
| KIM TT/AVPL | 137,50 | 141,50 | -0,70 / -0,70 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 137,50 | 141,50 | -0,70 / -0,70 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 131,00 | 133,00 | -2,20 / -2,20 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 130,50 | 132,50 | -2,20 / -2,20 |
| Nữ trang 9999 | 135,00 | 139,00 | -2,20 / -1,20 |
| Nữ trang 999 | 134,50 | 138,50 | -2,20 / -1,20 |
| Nữ trang 99 | 132,70 | 137,00 | -2,20 / -1,20 |
Tại PNJ, vàng miếng SJC giảm 300.000 đồng/lượng xuống 139–142 triệu đồng/lượng.
Nhẫn trơn PNJ 999.9, Kim Bảo, Phúc Lộc Tài và PNJ - Phượng Hoàng cùng giảm 400.000 đồng/lượng, xuống 138–141 triệu đồng/lượng.
Nhóm vàng nữ trang giảm khoảng 890.000–900.000 đồng/lượng.
Bảng giá vàng PNJ ngày 24/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 23/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 139,00 | 142,00 | -0,30 / -0,30 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 138,00 | 141,00 | -0,40 / -0,40 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 138,00 | 141,00 | -0,40 / -0,40 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 138,00 | 141,00 | -0,40 / -0,40 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 138,00 | 141,00 | -0,40 / -0,40 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 134,50 | 139,00 | -0,90 / -0,90 |
| Vàng nữ trang 999 | 134,36 | 138,86 | -0,90 / -0,90 |
| Vàng nữ trang 9920 | 131,69 | 137,89 | khoảng -0,89 / -0,89 |
| Vàng nữ trang 99 | 131,41 | 137,61 | khoảng -0,89 / -0,89 |
Bảo Tín Minh Châu hạ giá mua BTMC SJC khá mạnh, từ 138,1 xuống 137,4 triệu đồng/lượng, tương đương giảm 700.000 đồng. Giá bán giảm 300.000 đồng xuống 142 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán vì vậy nới rộng lên 4,6 triệu đồng/lượng.
Bảng giá Bảo Tín Minh Châu ngày 24/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 23/10 |
|---|---|---|---|
| BTMC SJC | 137,40 | 142,00 | -0,70 / -0,30 |
Tại Phú Quý, vàng miếng SJC được niêm yết ở 138–142 triệu đồng/lượng. Chiều mua giảm 400.000 đồng so với ngày trước, trong khi chiều bán giữ nguyên.
Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 giảm 400.000 đồng/lượng xuống 138–141 triệu đồng/lượng.
Nhóm vàng trang sức có diễn biến khác biệt: giá mua tăng nhẹ khoảng 100.000 đồng/lượng nhưng giá bán giảm khoảng 400.000 đồng/lượng.
Bảng giá vàng Phú Quý ngày 24/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 23/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 138,00 | 142,00 | -0,40 / 0 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 138,00 | 141,00 | -0,40 / -0,40 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 138,00 | 141,00 | -0,40 / -0,40 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 137,90 | 140,90 | -0,40 / -0,40 |
| Vàng trang sức 999.9 | 135,80 | 139,80 | +0,10 / -0,40 |
| Vàng trang sức 999 | 135,70 | 139,70 | +0,10 / -0,40 |
| Vàng trang sức 99 | 134,44 | 138,40 | khoảng +0,10 / -0,40 |
Nhìn chung, thị trường trong nước sáng 24/10 tiếp tục giảm nhưng mức điều chỉnh giữa các sản phẩm phân hóa khá mạnh.
Giá bán vàng miếng SJC tại SJC, DOJI, PNJ và BTMC cùng về 142 triệu đồng/lượng. Vàng nhẫn phổ biến quanh 141–141,5 triệu đồng/lượng.
Điểm đáng lưu ý là một số dòng vàng nguyên liệu và nữ trang của DOJI đã giảm hơn 2 triệu đồng/lượng ở chiều mua. Điều này cho thấy áp lực từ cú giảm mạnh của vàng quốc tế đang bắt đầu phản ánh rõ hơn vào các phân khúc ngoài vàng miếng.
Vàng thế giới thủng 4.000 USD, tuần giảm khoảng 4%
Theo dữ liệu cập nhật sáng 24/10, giá vàng thế giới ở khoảng 3.996 USD/ounce, giảm 32 USD so với mức 4.028 USD/ounce ngày 23/10, tương đương khoảng 0,79%.
Biên độ ngày rất rộng, từ khoảng 3.976 đến 4.034 USD/ounce.
Đáng chú ý, giá đã chính thức xuyên mốc tâm lý 4.000 USD/ounce và có thời điểm xuống gần 3.975 USD. Đây là vùng thấp nhất của vàng kể từ tháng 7.
Tính chung cả tuần, vàng đã giảm khoảng 4%, hướng tới tuần giảm mạnh nhất kể từ tháng 6 và cũng là tuần giảm sâu nhất trong hơn 4 tháng.
Nguyên nhân chính vẫn đến từ giá năng lượng.
Dầu Brent kết phiên gần nhất ở 116,72 USD/thùng, tăng hơn 3% trong ngày và lên mức cao nhất kể từ cuối tháng 4. WTI tăng gần 4% lên 103,27 USD/thùng.
Căng thẳng tại Trung Đông tiếp tục làm gia tăng lo ngại về gián đoạn nguồn cung, trong đó các vụ tấn công liên quan đến Saudi Arabia và những rủi ro đối với tuyến vận tải dầu qua vùng Vịnh đang tạo thêm phần bù rủi ro cho giá năng lượng.
Vấn đề đối với vàng là dầu càng tăng, nguy cơ lạm phát càng lớn. Điều đó làm giảm khả năng các ngân hàng trung ương sớm nới lỏng chính sách và củng cố quan điểm lãi suất có thể duy trì ở mức cao lâu hơn.
Thị trường hiện định giá khoảng 92% khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp ngày 27–28/10. Tuy nhiên, khả năng tăng lãi suất vào tháng 12 vẫn ở khoảng 78%.
Báo cáo PCE của Mỹ ngày 29/10 sẽ trở thành dữ liệu quan trọng tiếp theo để đánh giá sức ép lạm phát và khả năng Fed tiếp tục thắt chặt cuối năm.
Ngoài yếu tố lãi suất, đợt bán tháo ở nhóm cổ phiếu công nghệ Mỹ cũng tạo thêm sức ép. Khi các vị thế cổ phiếu bị gọi ký quỹ, một bộ phận nhà đầu tư phải bán cả vàng và bạc để bổ sung tiền mặt, khiến áp lực bán trên thị trường kim loại quý gia tăng.
Dự báo giá vàng 24/10: Sau khi mất 4.000 USD, vùng 3.975 USD trở thành điểm phòng thủ
Việc vàng xuyên thủng 4.000 USD/ounce là tín hiệu kỹ thuật đáng chú ý nhất của phiên này.
Vùng thấp khoảng 3.975–3.985 USD/ounce, sát đáy phiên vừa ghi nhận, có thể được xem là hỗ trợ gần đầu tiên.
Nếu khu vực này giữ được, vàng có khả năng xuất hiện nhịp hồi kỹ thuật trở lại 4.000–4.020 USD/ounce.
Nếu vượt 4.020 USD, vùng 4.030–4.050 USD/ounce sẽ là khu vực cản tiếp theo. Muốn cải thiện rõ cấu trúc giá ngắn hạn, vàng cần quay trở lại trên 4.080–4.100 USD/ounce.
Ở chiều ngược lại, nếu vùng 3.975 USD bị xuyên thủng, mốc 3.950 USD/ounce có thể trở thành điểm hỗ trợ tiếp theo.
Trong kịch bản lực bán tiếp tục mạnh, vùng tâm lý 3.900 USD/ounce sẽ là khu vực cần đặc biệt theo dõi.
Biên độ tham khảo trong ngắn hạn có thể nằm khoảng 3.950–4.050 USD/ounce. Khả năng xuất hiện nhịp hồi kỹ thuật đang tăng lên sau chuỗi giảm mạnh, nhưng chưa đủ cơ sở để xác nhận thị trường đã tạo đáy.
Đối với thị trường trong nước, SJC đang ở mức bán ra 142 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới giữ được vùng 3.975–4.000 USD và phục hồi trở lại 4.030–4.050 USD, giá bán SJC có thể dao động quanh 141,8–142,5 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng quốc tế quay lại trên 4.100 USD, SJC có khả năng kiểm tra lại vùng 143 triệu đồng/lượng.
Ngược lại, nếu vàng thế giới tiếp tục xuyên 3.975 USD và lùi về 3.930–3.950 USD, áp lực giảm trong nước có thể gia tăng, đưa giá bán SJC về vùng 141–141,8 triệu đồng/lượng.
Kịch bản cơ sở trong ngày 24/10 là SJC dao động quanh 141,5–142,5 triệu đồng/lượng.
Người mua ngắn hạn vẫn cần đặc biệt lưu ý mức chênh mua - bán. Vàng miếng tại SJC, DOJI và PNJ đang chênh 3 triệu đồng/lượng; Phú Quý lên khoảng 4 triệu đồng và BTMC khoảng 4,6 triệu đồng/lượng.
Với diễn biến quốc tế rất mạnh hiện nay, khoảng chênh này khiến rủi ro giao dịch ngắn hạn cao hơn bình thường.
Nhìn tổng thể, vàng đang ở giai đoạn điều chỉnh mạnh nhất trong nhiều tháng. Việc xuyên 4.000 USD/ounce cho thấy tâm lý thị trường đã yếu đi đáng kể, trong khi giá dầu tăng lên gần 117 USD/thùng tiếp tục nuôi dưỡng rủi ro lạm phát.
Tuy vậy, vàng đã giảm khoảng 4% chỉ trong một tuần và đang tiếp cận những vùng kỹ thuật quan trọng. Vì vậy, khả năng xuất hiện các nhịp hồi mạnh trong phiên không thể loại trừ, nhưng để xác nhận đảo chiều, giá cần ít nhất lấy lại vùng 4.050–4.100 USD/ounce.