Giá dầu tăng vọt vì căng thẳng Trung Đông đang làm dấy lên lo ngại lạm phát và khả năng lãi suất Mỹ duy trì cao lâu hơn. Trong khi vàng quốc tế chịu áp lực bán mạnh, thị trường trong nước sáng nay lại diễn biến phân hóa, chưa phản ánh đầy đủ cú giảm của thế giới.
Giá vàng hôm nay 22/10: SJC giảm ngày thứ ba, vàng thế giới phục hồi?
Giá vàng sáng 22/10 tiếp tục giảm trong nước, SJC còn 139,3–142,3 triệu đồng/lượng. Vàng thế giới nhích lên 4.132 USD/ounce nhưng xu hướng ngắn hạn vẫn giằng co.
SJC đứng giá, vàng nhẫn và các thương hiệu diễn biến trái chiều
Sáng 23/10, vàng miếng SJC tại TP.HCM và miền Bắc tiếp tục được niêm yết ở mức 139,3 triệu đồng/lượng mua vào và 142,3 triệu đồng/lượng bán ra.
So với ngày 22/10, giá không thay đổi ở cả hai chiều. Khoảng cách mua - bán duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng SJC ngày 23/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Khu vực | Mua vào | Bán ra | So với 22/10 |
|---|---|---|---|
| TP.HCM | 139,30 | 142,30 | Không đổi |
| Miền Bắc | 139,30 | 142,30 | Không đổi |
Diễn biến này khá đáng chú ý bởi vàng thế giới đã giảm rất mạnh trong phiên quốc tế vừa qua. Sau ba ngày liên tiếp đi xuống, SJC tạm dừng giảm trong sáng 23/10 thay vì tiếp tục điều chỉnh ngay theo thị trường bên ngoài.
Tại DOJI, vàng miếng SJC cũng được giữ nguyên ở 139,3–142,3 triệu đồng/lượng.
Trái lại, KIM TT/AVPL và nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tăng nhẹ 200.000 đồng/lượng so với ngày trước, lên 138,2–142,2 triệu đồng/lượng. Các dòng vàng nguyên liệu và nữ trang DOJI cũng tăng khoảng 200.000 đồng/lượng.
Bảng giá vàng DOJI ngày 23/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 22/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 139,30 | 142,30 | Không đổi |
| KIM TT/AVPL | 138,20 | 142,20 | +0,20 / +0,20 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 138,20 | 142,20 | +0,20 / +0,20 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 133,20 | 135,20 | +0,20 / +0,20 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 132,70 | 134,70 | +0,20 / +0,20 |
| Nữ trang 9999 | 137,20 | 140,20 | +0,20 / +0,20 |
| Nữ trang 999 | 136,70 | 139,70 | +0,20 / +0,20 |
| Nữ trang 99 | 134,90 | 138,20 | +0,20 / +0,20 |
PNJ gần như không thay đổi toàn bộ bảng giá.
Vàng miếng SJC 999.9 giữ ở 139,3–142,3 triệu đồng/lượng. Nhẫn trơn PNJ 999.9, Kim Bảo, Phúc Lộc Tài và PNJ - Phượng Hoàng cùng ở mức 138,4–141,4 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng PNJ ngày 23/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 22/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 139,30 | 142,30 | Không đổi |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 138,40 | 141,40 | Không đổi |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 138,40 | 141,40 | Không đổi |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 138,40 | 141,40 | Không đổi |
| PNJ - Phượng Hoàng | 138,40 | 141,40 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 999.9 | 135,40 | 139,90 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 999 | 135,26 | 139,76 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 9920 | 132,58 | 138,78 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 99 | 132,30 | 138,50 | Không đổi |
Bảo Tín Minh Châu cũng chưa điều chỉnh BTMC SJC, tiếp tục niêm yết ở 138,1 triệu đồng/lượng mua vào và 142,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Khoảng cách giữa hai chiều ở mức 4,2 triệu đồng/lượng, rộng hơn đáng kể so với SJC, DOJI và PNJ.
Bảng giá Bảo Tín Minh Châu ngày 23/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 22/10 |
|---|---|---|---|
| BTMC SJC | 138,10 | 142,30 | Không đổi |
Phú Quý là thương hiệu điều chỉnh giảm khá rõ trong sáng nay.
Vàng miếng SJC xuống 138,4–142 triệu đồng/lượng, thấp hơn 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với ngày trước.
Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 cũng giảm 300.000 đồng/lượng, xuống 138,4–141,4 triệu đồng/lượng. Nhóm vàng trang sức giảm xấp xỉ 300.000 đồng/lượng.
Bảng giá vàng Phú Quý ngày 23/10/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 22/10 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 138,40 | 142,00 | -0,30 / -0,30 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 138,40 | 141,40 | -0,30 / -0,30 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 138,40 | 141,40 | -0,30 / -0,30 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 138,30 | 141,30 | -0,30 / -0,30 |
| Vàng trang sức 999.9 | 135,70 | 140,20 | -0,30 / -0,30 |
| Vàng trang sức 999 | 135,60 | 140,10 | -0,30 / -0,30 |
| Vàng trang sức 99 | 134,34 | 138,80 | khoảng -0,30 / -0,30 |
Nhìn chung, thị trường trong nước sáng 23/10 đang phân hóa thay vì đồng loạt giảm theo thế giới.
SJC, vàng miếng DOJI, PNJ và BTMC đứng giá; vàng nhẫn DOJI tăng nhẹ, trong khi Phú Quý giảm khoảng 300.000 đồng/lượng.
Điều đáng chú ý hơn cả là giá thế giới đã giảm hơn 100 USD/ounce nhưng giá bán SJC vẫn giữ ở 142,3 triệu đồng/lượng. Nếu vàng quốc tế duy trì ở vùng thấp trong các phiên tới, áp lực điều chỉnh đối với thị trường trong nước có thể tăng lên.
Khoảng cách mua - bán vẫn khá lớn. Vàng miếng SJC tại SJC, DOJI và PNJ chênh 3 triệu đồng/lượng; Phú Quý khoảng 3,6 triệu đồng; BTMC khoảng 4,2 triệu đồng/lượng.
Vàng thế giới mất hơn 100 USD, xuống sát 4.000 USD/ounce
Theo dữ liệu cập nhật sáng 23/10, giá vàng thế giới ở khoảng 4.028 USD/ounce, giảm 104 USD so với mức 4.132 USD/ounce ngày 22/10.
Mức giảm tương đương khoảng 2,52% chỉ trong một ngày.
Biên độ đầu ngày nằm trong khoảng 4.024–4.029 USD/ounce, cho thấy vàng hiện vẫn giao dịch rất gần vùng thấp mới.
Đợt giảm mạnh sáng nay nối tiếp phiên bán tháo trên thị trường quốc tế ngày 22/10. Vàng giao ngay trong phiên này giảm khoảng 2,4%, xuống quanh 4.041 USD/ounce và có thời điểm chạm vùng thấp nhất hơn hai tháng.
Nguyên nhân lớn nhất không đến từ việc rủi ro địa chính trị giảm, mà ngược lại từ giá dầu tăng mạnh.
Căng thẳng tại Trung Đông leo thang sau các cuộc tấn công của lực lượng Houthi nhằm vào cơ sở hạ tầng của Saudi Arabia, làm gia tăng lo ngại nguồn cung dầu từ khu vực.
Dầu Brent tăng mạnh lên hơn 113 USD/thùng, mức cao nhất khoảng 5 tháng, trong khi WTI tiến sát 100 USD/thùng.
Thông thường căng thẳng địa chính trị có thể tạo nhu cầu trú ẩn cho vàng. Tuy nhiên, lần này thị trường lại tập trung nhiều hơn vào tác động của dầu đắt đỏ đối với lạm phát.
Giá năng lượng cao kéo dài có thể khiến lạm phát Mỹ khó giảm và buộc Fed phải duy trì lãi suất cao lâu hơn. Đây là yếu tố bất lợi đối với vàng bởi kim loại quý không tạo ra lợi suất.
Số liệu CPI và PPI Mỹ gần đây đều cao hơn kỳ vọng, càng củng cố quan điểm rằng Fed chưa thể sớm chuyển sang chính sách nới lỏng.
Thị trường hiện vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp ngày 27–28/10. Tuy nhiên, xác suất Fed tăng lãi suất trong tháng 12 đã tăng trở lại khoảng 78%.
Sự kết hợp giữa giá dầu cao, nguy cơ lạm phát và lãi suất duy trì ở mức cao đang trở thành lực cản lớn nhất đối với vàng trong ngắn hạn.
Dự báo giá vàng 23/10: Mốc 4.000 USD trở thành vùng phòng thủ quan trọng
Sau cú giảm hơn 100 USD, vàng thế giới hiện chỉ còn cách mốc tâm lý 4.000 USD/ounce khoảng 28 USD.
Vì vậy, vùng 4.000–4.020 USD/ounce có thể được xem là khu vực hỗ trợ quan trọng nhất trong ngắn hạn.
Nếu lực mua bắt đáy xuất hiện và vàng giữ được vùng này, giá có khả năng hồi lên 4.040–4.060 USD/ounce.
Nếu vượt được 4.060 USD, vùng 4.090–4.100 USD/ounce sẽ là thử thách tiếp theo. Đây cũng là khu vực cần được lấy lại nếu vàng muốn cải thiện đáng kể cấu trúc ngắn hạn.
Xa hơn, vùng 4.125–4.140 USD/ounce hiện đã chuyển thành kháng cự mạnh sau cú giảm ngày 22/10.
Ở chiều ngược lại, nếu mốc 4.000 USD/ounce bị xuyên thủng rõ ràng, tâm lý thị trường có thể trở nên tiêu cực hơn.
Trong trường hợp này, vùng 3.970–3.980 USD/ounce có thể trở thành khu vực tham khảo tiếp theo trước khi thị trường tìm được điểm cân bằng mới.
Biên độ tham khảo trong ngày có thể nằm khoảng 3.980–4.080 USD/ounce. Đây là biên độ khá rộng, phản ánh mức độ biến động hiện tại của thị trường.
Kịch bản cơ sở vẫn nghiêng về thận trọng. Một nhịp hồi kỹ thuật có thể xuất hiện khi vàng tiến sát 4.000 USD, nhưng chưa đủ cơ sở để khẳng định quá trình điều chỉnh đã kết thúc.
Đối với thị trường trong nước, việc SJC vẫn giữ 142,3 triệu đồng/lượng trong lúc vàng thế giới giảm hơn 2,5% khiến khả năng điều chỉnh tiếp cần được tính đến.
Nếu vàng quốc tế giữ được 4.000 USD và phục hồi về 4.050–4.080 USD/ounce, giá bán SJC có thể duy trì quanh 142–142,8 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới lấy lại 4.100 USD, vùng 143 triệu đồng/lượng có thể được kiểm tra trở lại.
Ngược lại, nếu giá quốc tế giảm rõ xuống dưới 4.000 USD/ounce, SJC có thể chịu áp lực lùi về khoảng 141–142 triệu đồng/lượng, tùy mức điều chỉnh của các doanh nghiệp trong nước.
Kịch bản tham khảo trong ngày 23/10 là giá bán SJC dao động quanh 141,8–142,8 triệu đồng/lượng.
Người mua ngắn hạn cần thận trọng hơn trong giai đoạn hiện nay. Ngoài biến động giá quốc tế rất lớn, khoảng cách mua - bán vàng miếng trong nước vẫn từ 3 đến hơn 4 triệu đồng/lượng, khiến rủi ro tăng đáng kể nếu thị trường tiếp tục điều chỉnh.
Nhìn tổng thể, tín hiệu ngày 23/10 đã xấu đi rõ rệt đối với vàng thế giới. Cú giảm từ 4.132 xuống 4.028 USD/ounce đưa thị trường trở lại sát ngưỡng tâm lý 4.000 USD.
Điểm tích cực là vùng 4.000 USD có thể kích hoạt lực mua bắt đáy. Tuy nhiên, giá dầu trên 110 USD/thùng, rủi ro lạm phát và triển vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm đang khiến dư địa phục hồi của vàng bị hạn chế.