Hơn 2,5 triệu người nộp thuế thuộc diện xem xét
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về chính sách đặc thù xử lý nợ thuế, nhằm tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế trong quá trình thực hiện Luật Quản lý thuế.
Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất xóa nợ lệ phí môn bài phát sinh đến hết ngày 31/12/2025 đã được hạch toán, theo dõi trên Hệ thống thông tin quản lý thuế và tiền chậm nộp lệ phí môn bài.
Đối tượng được xem xét áp dụng là người nộp thuế ở trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa đóng mã số thuế (trạng thái 03) hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký (trạng thái 06). Đối với nhóm này, tiền chậm nộp lệ phí môn bài sẽ được xóa sau khi người nộp thuế nộp đủ tiền thuế nợ gốc vào ngân sách nhà nước. Trường hợp đã thanh toán đủ nợ gốc hoặc không còn nợ gốc trước khi Nghị quyết có hiệu lực cũng được xóa toàn bộ tiền chậm nộp còn lại.
Để được hưởng chính sách, người nộp thuế phải nộp hồ sơ hợp lệ đề nghị khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế và được cơ quan thuế tiếp nhận muộn nhất vào ngày kết thúc thời gian áp dụng Nghị quyết.
Tuy nhiên, chính sách không áp dụng đối với các khoản nợ phát sinh từ hành vi trốn thuế, gian lận thuế, sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp hoặc những trường hợp đang trong quá trình thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử. Các khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh trong thời gian người nộp thuế bỏ địa chỉ đăng ký hoặc ngừng hoạt động nhưng chưa đóng mã số thuế cũng không thuộc diện được xóa.
Dự thảo Nghị quyết dự kiến có hiệu lực từ ngày Quốc hội thông qua đến hết ngày 30/6/2028. Trường hợp phát hiện xử lý sai đối tượng, sai điều kiện hoặc sai số tiền, cơ quan thuế sẽ khôi phục khoản nợ và thực hiện truy thu theo quy định.
Theo thống kê của Bộ Tài chính, tính đến ngày 23/10, cả nước có 2.518.440 người nộp thuế ở trạng thái 03 và 06. Trong đó, nhóm ngừng hoạt động hoặc rời địa chỉ đăng ký từ năm 2015 trở về trước có 529.041 trường hợp, chiếm khoảng 21% tổng số.
Tổng số nợ thuế của nhóm này lên tới 27.805 tỷ đồng, gồm 18.090 tỷ đồng nợ gốc, chiếm khoảng 65%, và 9.715 tỷ đồng tiền chậm nộp, chiếm khoảng 35%.
Đáng chú ý, gần 2 triệu người nộp thuế ở trạng thái 03 bị thu hồi giấy phép kinh doanh và trạng thái 06 chưa từng được hạch toán lệ phí môn bài trong thời gian ngừng kinh doanh. Nếu nhóm này quay lại thực hiện thủ tục giải thể hoặc khôi phục mã số thuế, nghĩa vụ lệ phí môn bài chưa được ghi nhận ước tính khoảng 15.000 tỷ đồng.
Bên cạnh đề xuất xóa nợ lệ phí môn bài và tiền chậm nộp, dự thảo cũng đề xuất xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với người nộp thuế đã ngừng kinh doanh hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký từ đủ 10 năm trở lên tính đến ngày Nghị quyết có hiệu lực, với điều kiện không còn nợ thuế và không thuộc diện thanh tra, truy tố.
Xóa nợ thuế cần đi cùng cải cách thủ tục giải thể
Trao đổi với phóng viên Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam, ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas cho rằng, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về chính sách đặc thù xử lý nợ thuế để tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế là bước tiến lớn trong chiến dịch làm sạch mã số thuế.
Theo ông Tuấn, gánh nặng tài chính khi thực hiện thủ tục giải thể đang là một trong những điểm nghẽn lớn nhất đối với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh không còn hoạt động trên thực tế. Trong đó, tiền truy thu lệ phí môn bài và tiền chậm nộp có thể lên tới hàng chục triệu đồng nếu người nộp thuế đã ngừng hoạt động trong nhiều năm.
Phân tích về bản chất khoản thu này, ông Tuấn cho biết lệ phí môn bài là khoản phí hành chính gắn với giấy phép đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp và hộ kinh doanh, được xác định dựa trên vốn điều lệ đăng ký đối với doanh nghiệp hoặc doanh thu ước tính đối với hộ kinh doanh.
“Khi người nộp thuế đã ngừng hoạt động nhiều năm, dịch vụ hành chính công gắn với hoạt động kinh doanh cũng không còn được cung cấp trong khoảng thời gian đó. Vì vậy, việc không truy thu lệ phí môn bài và tiền chậm nộp lệ phí môn bài là giải pháp hợp lý, phù hợp với Nghị quyết 198/2025/QH15 về chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài từ ngày 1/1/2026”, ông Tuấn nói.
Vị chuyên gia cho rằng, nếu không tháo gỡ được khoản nghĩa vụ tài chính này, người nộp thuế có thể tiếp tục rơi vào vòng luẩn quẩn: không đủ nguồn lực để hoàn tất thủ tục giải thể nên tiếp tục bỏ mặc mã số thuế, khiến cơ quan quản lý gặp khó khăn trong việc làm sạch dữ liệu. Do đó, chính sách xóa nợ không chỉ hỗ trợ người nộp thuế khắc phục hậu quả mà còn tạo cơ hội để họ khởi nghiệp, kinh doanh trở lại mà không bị kiệt quệ về tài chính.
Tuy nhiên, theo ông Tuấn, việc tháo gỡ khó khăn không đồng nghĩa với xóa bỏ toàn bộ trách nhiệm của người nộp thuế. Đối với các nghĩa vụ kê khai đã phát sinh, việc không xóa bỏ hoàn toàn mức phạt do chậm nộp hồ sơ khai thuế là đề xuất hợp lý, bởi người nộp thuế vẫn phải chịu trách nhiệm đối với thực thể kinh doanh do mình thành lập.
Thay vào đó, Nhà nước có thể hỗ trợ bằng cách giảm mức phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế, qua đó tạo động lực để doanh nghiệp, hộ kinh doanh sớm hoàn tất thủ tục giải thể.
“Việc áp dụng mức phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế chỉ bằng 30%, 50%, hay 70% (tùy thời điểm nộp hồ sơ khai thuế) so với quy định hiện hành nhằm tạo động lực cho người nộp thuế tiến hành nộp hồ sơ giải thể càng sớm càng được lợi. Điều này cũng giúp chiến dịch làm sạch mã số thuế của ngành thuế diễn ra nhanh chóng hơn”, ông Tuấn đánh giá.
Bên cạnh chính sách xử lý nợ, Giám đốc Thuế Keytas cho rằng, Bộ Tài chính cần sớm ban hành bộ quy trình hướng dẫn giải thể theo hướng rút gọn, tinh giản. Quy trình cần được xây dựng đồng bộ, không chỉ áp dụng trong ngành thuế mà còn có sự thống nhất với các cơ quan liên quan như Sở Tài chính, cơ quan Hải quan.
“Về lâu dài, vẫn cần rút gọn và đơn giản hóa quy trình giải thể theo hướng áp dụng công nghệ số và phân tích dữ liệu, để từ đó, chấp nhận giải thể nhanh chóng cho các hồ sơ thuế ít rủi ro. Bởi lẽ, thủ tục giải thể kéo dài và khó khăn cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình hình hiện nay”, ông Tuấn khuyến nghị.
Có thể thấy, xử lý khối nợ thuế tồn đọng gần 28.000 tỷ đồng không chỉ là câu chuyện xóa bỏ những nghĩa vụ tài chính đã kéo dài nhiều năm, mà còn là yêu cầu cấp thiết trong cải cách quản lý thuế. Khi chính sách hỗ trợ được triển khai đồng bộ với quy trình giải thể đơn giản, minh bạch và ứng dụng công nghệ số, những mã số thuế không còn hoạt động mới có thể được xử lý dứt điểm, đồng thời tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh mới.