Theo số liệu cập nhật từ Hội nghiên cứu thị trường liên ngân hàng Việt Nam, trong phiên gần nhất, lãi suất bình quân liên ngân hàng tính bằng đồng Việt Nam giảm từ 0,23 đến 1,5 điểm phần trăm ở các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên trước. Riêng lãi suất qua đêm giảm về 1%/năm.
Trước đó, sau khi tăng lên 7%/năm ở kỳ hạn qua đêm trong phiên đầu tuần (21/9), mức lãi suất này liên tục giảm trong 3 phiên kế tiếp, lần lượt xuống 4,4%, 2,5% và chỉ còn 1%/năm như hiện tại.
Tại các kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần và 1 tháng, lãi suất cũng giảm trong phiên 24/9, lần lượt còn 5,1%, 5,2% và 6,15%/năm. So với đầu tuần, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã giảm đáng kể.
Đây không phải lần đầu lãi suất qua đêm xuống vùng thấp trong thời gian gần đây. Ngày 30/7, lãi suất kỳ hạn này từng giảm xuống 0,7%/năm. Khi đó, tổng lượng vốn lưu hành trên kênh cầm cố của Ngân hàng Nhà nước ở mức hơn 172.530 tỷ đồng. Trong tuần 27-31/7, các tổ chức tín dụng trúng thầu hơn 48.341 tỷ đồng trên kênh cầm cố, trong khi hơn 36.018 tỷ đồng đến hạn.
Sau đó, lãi suất qua đêm tăng trở lại trước khi giảm mạnh một lần nữa vào cuối tháng 8. Ngày 27/8, lãi suất kỳ hạn này xuống 1,19%/năm. Trong tuần 24-28/8, lượng vốn lưu hành trên thị trường mở tăng lên khoảng 92.182 tỷ đồng, khi khối lượng cung ứng mới đạt 86.346 tỷ đồng, trong khi 31.453 tỷ đồng đáo hạn.
Đến ngày 24/9, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7, 14, 35 và 91 ngày, với lãi suất 4,5%/năm. Kết quả, các tổ chức tín dụng trúng thầu 598,08 tỷ đồng, trong khi 5.116,54 tỷ đồng đáo hạn. Qua đó, lượng vốn lưu hành trên kênh cầm cố còn khoảng 192.119 tỷ đồng.
Lãi suất liên ngân hàng và lãi suất trên thị trường 1 (thị trường giữa ngân hàng với khách hàng) có mối liên hệ thông qua thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Thị trường liên ngân hàng là nơi các ngân hàng vay mượn vốn ngắn hạn lẫn nhau, còn thị trường 1 là nơi ngân hàng huy động tiền từ người dân, doanh nghiệp và cho khách hàng vay.
Khi lãi suất liên ngân hàng tăng, chi phí vay mượn vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng cũng tăng, thường phản ánh thanh khoản hệ thống chịu áp lực. Nếu kéo dài, điều này có thể tạo áp lực khiến các ngân hàng tăng lãi suất huy động để bổ sung nguồn vốn, từ đó có thể tác động đến mặt bằng lãi suất cho vay trên thị trường 1.
Ngược lại, khi lãi suất liên ngân hàng giảm, chi phí vay mượn vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng hạ xuống, thường cho thấy thanh khoản hệ thống dồi dào hơn. Nếu xu hướng này kéo dài, áp lực huy động vốn có thể giảm, qua đó tạo điều kiện để các ngân hàng duy trì hoặc giảm lãi suất huy động, đồng thời hỗ trợ mặt bằng lãi suất cho vay trên thị trường 1. Tuy nhiên, mức độ và tốc độ tác động còn phụ thuộc vào nhu cầu tín dụng, chi phí vốn và định hướng điều hành của từng ngân hàng.