LCĐT - Là tỉnh có tiềm năng và lợi thế phát triển đông y, với nhiều giống cây dược liệu đặc hữu như: Cỏ sâm trúc tiết, cỏ nhung, nấm linh chi, hoàng liên, hà thủ ô đỏ, Atisô, những năm qua, Lào Cai đã biết tận dụng khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh nhằm nâng cao hiệu quả công tác chữa bệnh bằng đông y.
Để các yếu tố tự nhiên và tri thức địa phương phát huy giá trị, đáp ứng mục tiêu nhân đạo là “trị bệnh, cứu người” bằng thuốc Nam và theo định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển nền Đông y Việt Nam, năm 1995, Hội Đông y tỉnh được thành lập, tiền thân là Hội Y học cổ truyền tỉnh. Được xây dựng và phát triển theo Chỉ thị số 24 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa X) và chương trình, kế hoạch của tỉnh, số hội viên Hội Đông y tỉnh ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng. Đến năm 2013, tất cả 9/9 huyện, thành phố có hội đông y; mạng lưới cơ sở xã, phường có 20 chi hội, với tổng số 502 hội viên. Trong đó, Hội Đông y huyện Bảo Thắng có số hội viên đông nhất là 120 hội viên; tiếp theo là Hội Đông y huyện
Cán bộ kỹ thuật Công ty Traphaco Sa Pa hướng dẫn bà con làm đất trồng thảo dược.
Bác sĩ Vũ Thị Hòa, phụ trách Phòng chẩn trị (thí điểm) và cũng là người phụ trách công tác Văn phòng Hội Đông y tỉnh cho biết: Thực hiện Điều lệ Hội và sự chỉ đạo của tỉnh, từ đầu năm đến nay, Hội Đông y tỉnh đã tổ chức 3 lớp tập huấn công tác hội và nâng cao trình độ cho hội viên. Một số hoạt động cụ thể là: Chi hội Đông y Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh, Chi hội Bệnh viện Điều dưỡng – Phục hồi chức năng tỉnh tiến hành chuyển giao kỹ thuật cho các khoa, phòng y học cổ truyền ở các bệnh viện tuyến huyện. Trong quá trình xây dựng và phát triển, Hội luôn được tỉnh quan tâm, nhiều hội viên trong ngành y tế được đào tạo đại học, sau đại học chuyên ngành y học cổ truyền. Ở tuyến huyện, hội đông y các huyện lồng ghép các buổi sinh hoạt hội với công tác chuyên môn để nâng cao trình độ cho hội viên.
Với mục tiêu góp phần chăm sóc sức khoẻ nhân dân, tỉnh hội luôn chú trọng chỉ đạo các cấp hội thực hiện bằng cách hướng dẫn các phòng chẩn trị của hội viên thực hiện theo đúng quy định của Bộ Y tế, hướng dẫn hội viên làm thủ tục để cấp chứng chỉ hành nghề. Đến nay, 9 phòng chẩn trị của hội viên và các cơ sở công lập cùng rất nhiều hội viên là “ông lang, bà mế” trong dân gian đã đóng góp không nhỏ vào công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Số bệnh nhân điều trị có hiệu quả tốt thuộc các nhóm: Phục hồi sau tai biến mạch máu não, bệnh cơ xương, khớp, viêm gan mãn... đạt nhiều kết quả tốt, đặc biệt, có nhiều lương y hội viên có uy tín, có nhiều bài thuốc chữa trị độc đáo, như bài thuốc điều trị xơ gan cổ chướng của ông lang Vàng Seo Tráng ở xã Bản Cầm (Bảo Thắng); bài thuốc điều trị rắn cắn của ông lang Bàn Giao Khuôn ở Phú Nhuận (Bảo Thắng); bài thuốc điều trị viêm, loét dạ dày của ông lang Hoàng Yên Châu ở Tà Chải (Bắc Hà); kinh nghiệm chữa dị ứng của lương y Nguyễn Bá Thêm ở thành phố Lào Cai... Trước đây, vì một số lý do, nên việc ghi chép, theo dõi, chẩn đoán bệnh chưa đạt yêu cầu chuyên nghiệp. Cán bộ tỉnh hội và huyện hội đã hướng dẫn hội viên cách theo dõi, ghi chép theo phương pháp khoa học. Đến nay, các cơ sở hành nghề của hội viên đều có sổ sách ghi chép chẩn đoán bệnh, kê đơn thuốc rõ ràng; bào chế sao tẩm, kỹ thuật bảo quản tốt, chất lượng thuốc từng bước được cải thiện; chất lượng khám, điều trị bệnh được nâng cao, tạo được uy tín đối người bệnh và gia đình người bệnh.
Có thể thấy được điều này ở xã Tà Chải (Bắc Hà): Trạm Y tế xã Tà Chải đã phối hợp với Chi hội Đông y triển khai khám, chữa bệnh tại Trạm Y tế xã, phát huy được vai trò chuyên môn của hội, giải quyết được tình trạng thiếu cán bộ y học cổ truyền, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền của nhân dân địa phương. Tỷ lệ khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại Trạm Y tế xã Tà Chải hằng năm đạt trên 35% trong tổng chỉ tiêu khám, chữa bệnh chung, vượt kế hoạch so với Chương trình hành động số 88 của Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị 24 của Ban Bí thư (Khoá X).
Thống kê của Hội Đông y tỉnh cho thấy: Trong 5 năm qua, tổng số bệnh nhân được điều trị hoàn toàn bằng thuốc nam là 582 người, trong đó có 51 trường hợp điều trị miễn phí, với số lượng thuốc đã sử dụng 8.730 thang, bằng 1.400 kg dược liệu khô, tương đương trên 5,6 tấn thảo dược tươi.
Một trong những nhiệm vụ công tác quan trọng của hội là kế thừa, bảo tồn, nuôi trồng và xử lý dược liệu. Hội Đông y tỉnh đã đề ra những biện pháp vận động cán bộ, hội viên và nhân dân trồng và sử dụng thuốc nam; di thực, bảo tồn cây thuốc, bài thuốc tốt trong nhân dân, bảo tồn nguồn gien quý. Song song với vận động, khuyến khích là giúp đỡ hội viên tiếp thu kiến thức thị trường, kết hợp chuyển đổi diện tích đất canh tác để hướng tới phát triển thuốc nam thành hàng hoá, đem lại thu nhập cao hơn trên cùng diện tích canh tác (như phối hợp với Công ty Traphaco Sa Pa trồng Actisô theo định hướng dược liệu xanh, đến nay đã có hàng chục ha, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm nghèo và cải thiện môi trường).
Với sự quan tâm của tỉnh về quy hoạch và sự khuyến khích, tạo điều kiện cho nền đông y phát triển, cây thuốc và bài thuốc từ nội lực địa phương sẽ tiếp tục được bảo tồn và phát huy, hình thành các vùng dược liệu, tăng cường đội ngũ y học cổ truyền, biến tiềm năng trở thành hiện thực để đông y góp phần hơn nữa trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và hướng tới những sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao.