Xã Trấn Yên được thành lập trên cơ sở hợp nhất từ thị trấn Cổ Phúc và 5 xã: Tân Đồng, Báo Đáp, Thành Thịnh, Hòa Cuông và Minh Quán; có không gian sản xuất rộng, hệ sinh thái nông - lâm nghiệp đa dạng.
Hiện, địa phương đã hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung. Tiêu biểu như vùng dâu nuôi tằm hơn 712 ha, sản lượng kén đạt gần 1.200 tấn/năm. Chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ từng bước được thiết lập, với nhà máy ươm tơ tự động của Công ty Cổ phần Dâu tằm tơ Yên Bái đặt trên địa bàn, bao tiêu sản phẩm cho người dân. Nhờ đó, nghề dâu tằm dần thoát khỏi phụ thuộc vào thương lái, giá cả ổn định hơn.
Cùng với đó, cây quế tiếp tục giữ vai trò chủ lực với trên 6.000 ha, trong đó hơn 3.200 ha đạt chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn trong nước và quốc tế. Nhiều sản phẩm được chế biến sâu như quế thanh, bột quế, tinh dầu quế…, góp phần nâng cao giá trị so với phương thức khai thác truyền thống.
Bên cạnh đó là các vùng cây ăn quả, chè, dược liệu, thủy sản và chăn nuôi gia cầm. Các vùng sản xuất chủ lực cho thu nhập bình quân 200 - 250 triệu đồng/ha/năm, cho thấy hiệu quả bước đầu của định hướng phát triển hàng hóa.
Tuy nhiên, nền tảng diện tích và sản lượng mới chỉ là điều kiện cần. Thực tế cho thấy, ở một số lĩnh vực, sản xuất vẫn còn phân tán; liên kết giữa các khâu giống - sản xuất - chế biến - tiêu thụ chưa đồng bộ; tỷ lệ chế biến sâu còn hạn chế; hạ tầng nội đồng, hạ tầng số chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong nông nghiệp.
Điều đó khiến giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng. Nếu không khắc phục những “mắt xích” còn lỏng lẻo, nông sản địa phương khó đứng vững khi cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Nhận diện rõ vấn đề, Ban Chấp hành Đảng bộ xã Trấn Yên đã ban hành Nghị quyết số 50-NQ/ĐU ngày 18/12/2025 về hình thành và phát triển vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa gắn với chuỗi giá trị tiêu biểu của vùng trung du và miền núi phía Bắc. Đây được xem là bước tái cấu trúc từ gốc, lấy chuỗi giá trị làm trục xuyên suốt.
Trấn Yên xác định phát triển kinh tế nhanh, bền vững là nhiệm vụ trung tâm; coi khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng. Xã tập trung phát triển nông nghiệp hàng hóa theo hướng hiện đại, hữu cơ, sinh thái, tuần hoàn; hình thành vùng sản xuất tập trung, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
Theo định hướng đến năm 2030, xã Trấn Yên duy trì và phát triển 750 ha dâu tằm; nâng sản lượng kén lên khoảng 1.500 tấn/năm; thu hút đầu tư mô hình Smart Farm, nuôi tằm trong nhà điều hòa. Với cây quế, ổn định diện tích trên 6.050 ha, nâng tỷ lệ đạt chứng nhận hữu cơ; tăng tỷ lệ chế biến sâu tối thiểu 70%. Chăn nuôi gà an toàn sinh học phấn đấu đạt 1,5 - 1,8 triệu con/năm; phần lớn sản lượng được sản xuất theo quy trình an toàn, có truy xuất nguồn gốc và tham gia chuỗi liên kết.
Đáng chú ý, 100% sản phẩm chủ lực sẽ áp dụng tem truy xuất điện tử; 50% sản phẩm OCOP phân phối qua sàn thương mại điện tử, từng bước mở rộng thị trường ngoài địa phương.
Trọng tâm vì thế không chỉ là tăng sản lượng, mà là chuẩn hóa quy trình, xây dựng thương hiệu và mở rộng kênh tiêu thụ.
Để xây dựng và vận hành chuỗi giá trị hiệu quả, việc thay đổi tư duy người sản xuất là yếu tố then chốt. Bà Nguyễn Thị Tuyết Nga - Chủ tịch Hội Nông dân xã Trấn Yên cho rằng: "Sản xuất hàng hóa gắn với chuỗi giá trị đòi hỏi nông dân tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã, tuân thủ quy trình kỹ thuật và cam kết chất lượng. Hội đang tăng cường tuyên truyền, tập huấn, hỗ trợ hội viên tiếp cận khoa học kỹ thuật, từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết, thị trường".
Tại thôn 2 Hòa Cuông, ông Vũ Đình Trọng, thành viên Tổ Hợp tác Quế hữu cơ là một trong những hộ tiên phong đăng ký 3 ha quế hữu cơ, với diện tích cây từ 4 - 7 năm tuổi. Theo ông Trọng, trước đây, mỗi hộ chăm sóc theo kinh nghiệm riêng, chưa chú trọng ghi chép hay quy trình thống nhất. Khi tham gia tổ hợp tác, các hộ được hướng dẫn ghi nhật ký sản xuất, tuân thủ quy định về vật tư đầu vào, quy trình chăm sóc và thu hoạch.
“Làm theo tiêu chuẩn hữu cơ đòi hỏi kỹ hơn, nhưng bù lại sản phẩm được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng. Quan trọng hơn là mình không còn làm đơn lẻ mà có sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau”, ông Trọng chia sẻ.
Câu chuyện của ông Trọng cho thấy khi người dân chủ động tham gia chuỗi liên kết, giá trị không chỉ nằm ở sản phẩm, mà còn ở sự thay đổi cách nghĩ, cách làm.
Song song với phát triển kinh tế, Trấn Yên xác định bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu là yêu cầu xuyên suốt. Phát triển dược liệu dưới tán rừng, mở rộng quế hữu cơ, kết hợp sản xuất với du lịch trải nghiệm là hướng đi vừa tạo sinh kế, vừa gìn giữ cảnh quan.
Từ nền tảng đã có, Trấn Yên đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ hơn. Gỡ “nút thắt” chuỗi giá trị không chỉ là câu chuyện của ngành nông nghiệp, mà là sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và người dân.
Khi vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, chế biến sâu được đẩy mạnh, thương hiệu được định vị và thị trường được mở rộng, nông nghiệp Trấn Yên sẽ không chỉ dừng ở sản xuất, mà thực sự trở thành một nền kinh tế nông nghiệp hiện đại, sinh thái và bền vững.