Giá vàng trong nước sáng 14/9/2026 bước vào tuần mới trong trạng thái tương đối ổn định.
Vàng miếng SJC tại TP.HCM và miền Bắc tiếp tục được niêm yết 143 triệu đồng/lượng mua vào và 146 triệu đồng/lượng bán ra, không thay đổi so với ngày 13/9.
Cập nhật bảng giá vàng mới nhất ngày 13/9/2026
Thị trường vàng trong nước và thế giới tiếp tục ghi nhận những diễn biến biến động liên tục khi chịu tác động đan xen từ xu hướng tỷ giá đồng USD, biến động giá dầu và tâm lý chốt lời của giới đầu tư. Dưới đây là thông tin cập nhật chi tiết bảng giá vàng miếng SJC và vàng nhẫn mới nhất tại các thương hiệu lớn.
DOJI và PNJ cũng giữ nguyên vàng miếng ở 143 - 146 triệu đồng/lượng. Nhẫn DOJI bán 147 triệu đồng/lượng, Phú Quý 146,4 triệu đồng/lượng, trong khi PNJ niêm yết nhẫn trơn ngang vàng miếng ở 146 triệu đồng/lượng.
Ở thị trường quốc tế, mức 4.349 USD/ounce trong dữ liệu sáng nay về cơ bản vẫn là giá tham chiếu cuối tuần. Phiên gần nhất, vàng phục hồi hơn 1% nhờ lực mua bắt đáy nhưng vẫn giảm khoảng 1,5% tính chung cả tuần. Cuối phiên thứ Sáu, thị trường đã định giá xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 lên khoảng 87%.
Bảng giá vàng SJC ngày 14/9/2026
| Khu vực | Mua 14/9 | Bán 14/9 | Mua 13/9 | Bán 13/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| TP.HCM | 143,00 | 146,00 | 143,00 | 146,00 | Không đổi |
| Miền Bắc | 143,00 | 146,00 | 143,00 | 146,00 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán SJC hiện là 3 triệu đồng/lượng.
So với mức đỉnh ngắn hạn 150,6 triệu đồng/lượng ngày 26/8, giá bán hiện thấp hơn 4,6 triệu đồng/lượng.
Việc giá đứng yên trong cuối tuần là hợp lý khi thị trường vàng quốc tế chưa bước vào một phiên giao dịch mới đủ thanh khoản.
Bảng giá vàng DOJI
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 143,00 | 146,00 |
| Kim TT/AVPL | 143,00 | 147,00 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 143,00 | 147,00 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 138,50 | 140,50 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 138,00 | 140,00 |
| Nữ trang 9999 | 142,50 | 146,50 |
| Nữ trang 999 | 142,00 | 146,00 |
| Nữ trang 99 | 140,30 | 145,00 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Nhẫn DOJI vẫn cao hơn vàng miếng cùng hệ thống 1 triệu đồng/lượng ở chiều bán.
Khoảng cách mua - bán nhẫn ở mức 4 triệu đồng/lượng, tiếp tục là mức khá rộng nếu giao dịch trong thời gian ngắn.
Bảng giá vàng PNJ
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 143,00 | 146,00 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 143,00 | 146,00 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 143,00 | 146,00 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 143,00 | 146,00 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 143,00 | 146,00 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 140,50 | 145,50 |
| Vàng nữ trang 999 | 140,35 | 145,35 |
| Vàng nữ trang 9920 | 138,14 | 144,34 |
| Vàng nữ trang 99 | 137,85 | 144,05 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Một điểm đáng chú ý là vàng miếng và nhẫn trơn PNJ đang cùng mức 143 - 146 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán nhẫn ở mức 3 triệu đồng/lượng, thấp hơn DOJI.
Bảo Tín Minh Châu
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| BTMC SJC | 142,90 | 146,00 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Giá bán ngang SJC phổ biến, nhưng giá mua thấp hơn 100.000 đồng/lượng, đưa chênh lệch mua - bán lên 3,1 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng Phú Quý
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 143,00 | 146,00 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 143,00 | 146,40 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 143,00 | 146,40 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 142,90 | 146,30 |
| Vàng trang sức 999.9 | 140,00 | 145,00 |
| Vàng trang sức 999 | 139,90 | 144,90 |
| Vàng trang sức 99 | 138,60 | 143,55 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Nhẫn Phú Quý cao hơn vàng miếng khoảng 400.000 đồng/lượng ở chiều bán. Khoảng cách mua - bán nhẫn là 3,4 triệu đồng/lượng.
Vàng thế giới 4.349 USD: Fed gây sức ép, Trung Đông lại tạo lực đỡ
| Chỉ tiêu | 14/9/2026 | 13/9/2026 |
|---|---|---|
| Giá tham chiếu | 4.349 | 4.349 |
| Thấp nhất phiên gần nhất | 4.292 | 4.292 |
| Cao nhất phiên gần nhất | 4.403 | 4.403 |
| Thay đổi | Không đổi |
Đơn vị: USD/ounce.
Do ngày 13/9 là Chủ nhật và thời điểm cập nhật ngày 14/9 còn rất sớm, bảng trên không nên được hiểu là vàng đã có một phiên đi ngang mới. Mức 4.349 USD chủ yếu phản ánh giá đóng cửa cuối tuần.
Vàng bước vào tuần này với hai lực kéo gần như đối nghịch.
Ở chiều bất lợi, CPI tháng 8 của Mỹ tăng 0,4% so với tháng trước và 3,4% so với cùng kỳ. CPI lõi tăng 0,3% theo tháng. Các số liệu này củng cố khả năng Fed nâng lãi suất trong tuần này.
Cuối phiên thứ Sáu, thị trường định giá xác suất tăng 0,25 điểm phần trăm ở khoảng 85-87%. Lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 10 năm từng tiến sát 5% trước khi hạ về khoảng 4,93%.
Fed sẽ họp trong hai ngày 15-16/9. Quyết định chính sách được công bố lúc 14h ngày 16/9 theo giờ miền Đông Mỹ, sau đó là họp báo. Đây là cuộc họp có kèm cập nhật dự báo kinh tế, vì vậy không chỉ quyết định tăng hay giữ lãi suất mà thông điệp về các tháng tiếp theo cũng đặc biệt quan trọng.
Nếu Fed nâng 0,25 điểm phần trăm đúng như thị trường đã dự báo, phản ứng của vàng có thể không quá tiêu cực nếu Chủ tịch Fed phát tín hiệu đây chỉ là một lần điều chỉnh.
Ngược lại, nếu Fed phát tín hiệu còn phải tăng thêm lãi suất vào cuối năm, vàng có thể chịu một đợt bán mới.
Ở chiều hỗ trợ, rủi ro Trung Đông lại tăng mạnh trong cuối tuần.
Các vụ tấn công mới khiến tuyến ống Đông - Tây của Saudi Arabia phải ngừng hoạt động. Tuyến này từng chuyển khoảng 4 triệu thùng/ngày ra Biển Đỏ nhằm tránh eo Hormuz; việc gián đoạn kéo dài có thể đe dọa một phần đáng kể nguồn cung dầu thế giới.
Cuộc họp dự kiến giữa các quốc gia vùng Vịnh và Iran tại Oman để thảo luận an ninh eo Hormuz cũng đã bị hoãn.
Đây là yếu tố có thể khiến dầu tăng trở lại ngay khi thị trường mở cửa đầu tuần.
Với vàng, tác động có hai mặt: căng thẳng quân sự làm tăng nhu cầu trú ẩn, nhưng dầu cao cũng đẩy lạm phát lên và làm Fed có thêm lý do giữ chính sách tiền tệ cứng rắn.
Vàng thế giới quy đổi khoảng 136,9 triệu đồng/lượng
Tỷ giá Vietcombank ngày 13/9 giữ ở khoảng:
25.700 đồng/USD mua tiền mặt;
25.730 đồng/USD mua chuyển khoản;
26.110 đồng/USD bán ra.
Sử dụng tỷ giá bán 26.110 đồng/USD và giá vàng 4.349 USD/ounce:
4.349 × 26.110 × 37,5 / 31,1034768
tương đương khoảng:
136,9 triệu đồng/lượng.
Mức trên chưa bao gồm thuế, phí, gia công và các chi phí kinh doanh khác.
Trong khi SJC đang bán ở:
146 triệu đồng/lượng.
Như vậy, SJC cao hơn vàng thế giới quy đổi khoảng:
9,1 triệu đồng/lượng.
Khoảng chênh này đã nới nhẹ so với ngày 12/9 do SJC trong nước phục hồi lên 146 triệu đồng/lượng trong khi giá quốc tế gần như không thay đổi vào cuối tuần.
Mức trên 9 triệu đồng/lượng vẫn là khoảng cách đáng lưu ý với người mua vàng miếng ngắn hạn.
Dự báo giá vàng 14/9 và tuần Fed
Phiên đầu tuần có khả năng biến động mạnh hơn bình thường vì thị trường phải đồng thời hấp thụ thông tin mới từ Trung Đông và chuẩn bị cho Fed.
Khảo sát tuần mới của Kitco cho thấy 9/14 chuyên gia Phố Wall, tương đương 64%, dự báo vàng tăng trong tuần; 14% dự báo giảm và 21% nghiêng về đi ngang. Tuy nhiên, chính các chuyên gia cũng coi quyết định Fed là yếu tố quyết định hướng đi thực sự.
Kịch bản cơ sở với vàng thế giới
Biên độ dự kiến:
4.280 - 4.460 USD/ounce.
Vùng 4.300 - 4.320 USD vẫn là hỗ trợ tâm lý quan trọng.
Kháng cự gần nằm tại:
4.400 - 4.450 USD/ounce.
Nếu vượt rõ 4.450 USD, vùng 4.460 - 4.510 USD có thể được kiểm tra tiếp.
Kịch bản tăng
Vàng có thể tăng ngay đầu tuần nếu căng thẳng Trung Đông khiến dầu bật mạnh và nhu cầu trú ẩn tăng.
Nếu giữ trên 4.400 USD và vượt 4.450 USD, mục tiêu có thể mở lên:
4.480 - 4.510 USD/ounce.
Kịch bản tăng sẽ mạnh hơn nhiều nếu Fed bất ngờ giữ nguyên lãi suất vào ngày 16/9.
Kịch bản giảm
Nếu lợi suất Mỹ vượt lại 5%, USD tăng và thị trường chuẩn bị cho một Fed cứng rắn, vàng có thể kiểm tra:
4.300 USD/ounce.
Thủng vùng:
4.280 - 4.300 USD
có thể mở đường xuống:
4.230 - 4.250 USD/ounce.
Nếu Fed tăng 0,25 điểm phần trăm và đồng thời báo hiệu còn những đợt tăng tiếp theo, áp lực bán có thể mạnh hơn.
Dự báo giá SJC ngày 14/9
Giá hiện ở 143 - 146 triệu đồng/lượng.
Kịch bản cơ sở:
142,5 - 146,8 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới mở cửa tăng lên trên 4.400 - 4.450 USD, SJC có thể được điều chỉnh lên:
146,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới giảm dưới 4.300 USD, giá bán SJC có thể chịu áp lực trở lại vùng:
144,5 - 145,5 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách hơn 9 triệu đồng/lượng so với giá thế giới quy đổi vẫn để lại dư địa giảm cho thị trường trong nước nếu vàng quốc tế bước vào một nhịp bán mạnh.
Người mua vàng cần chú ý điều gì?
Tuần 14-20/9 không phù hợp với tâm lý mua đuổi chỉ vì một phiên tăng đầu tuần.
Lý do là Fed có thể tạo biến động hai chiều rất mạnh vào ngày 16/9, trong khi tình hình Trung Đông có thể khiến vàng và dầu phản ứng bất ngờ ngay trước đó.
Bên cạnh đó, chênh lệch mua - bán hiện vẫn khá lớn:
SJC khoảng 3 triệu đồng/lượng.
Nhẫn PNJ khoảng 3 triệu đồng/lượng.
Nhẫn Phú Quý khoảng 3,4 triệu đồng/lượng.
Nhẫn DOJI khoảng 4 triệu đồng/lượng.
SJC còn cao hơn vàng quốc tế quy đổi khoảng 9,1 triệu đồng/lượng.
Vì vậy, với giao dịch ngắn hạn, mức giá mua vào của doanh nghiệp và chênh lệch với thế giới quan trọng không kém giá bán niêm yết.
Kết luận dự báo
Giá vàng sáng 14/9/2026 đang tạm ổn định trước khi thị trường quốc tế bước vào phiên giao dịch đầy đủ của tuần mới.
SJC giữ mức 143 - 146 triệu đồng/lượng. Nhẫn DOJI bán 147 triệu đồng, PNJ 146 triệu đồng và Phú Quý 146,4 triệu đồng.
Vàng thế giới tham chiếu quanh 4.349 USD/ounce, tương đương khoảng 136,9 triệu đồng/lượng theo tỷ giá Vietcombank cuối tuần. Chênh lệch với SJC ở khoảng 9,1 triệu đồng/lượng.
Tuần này, Fed là biến số lớn nhất. Thị trường cuối tuần định giá xác suất tăng 0,25 điểm phần trăm ở mức rất cao, trong khi lợi suất trái phiếu Mỹ đã tiến sát 5%.
Nhưng rủi ro Trung Đông cũng tăng mạnh sau các vụ tấn công mới vào hạ tầng dầu Saudi Arabia và việc cuộc họp về Hormuz bị hoãn.
Vì vậy, vàng có thể mở tuần với xu hướng trú ẩn tích cực nhưng vẫn phải đối mặt lực cản lớn từ lãi suất.
Mốc cần theo dõi là 4.300 USD ở chiều hỗ trợ và 4.400 - 4.450 USD ở chiều kháng cự. Hướng đi bền vững hơn nhiều khả năng chỉ xuất hiện sau quyết định Fed ngày 16/9.