Đưa Luật Trí tuệ nhân tạo vào cuộc sống: Lập khung quản trị toàn diện cho AI

Việc Việt Nam thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo và đưa vào hiệu lực từ ngày 1/3 đưa nước ta trở thành một trong số ít quốc gia ban hành văn bản chính sách pháp luật chuyên biệt về trí tuệ nhân tạo.

ttxvn-luat-tri-tue-nhan-tao-3143.jpg

Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2026.

Trong bối cảnh nhiều quốc gia vẫn đang ở giai đoạn xây dựng khung chính sách hoặc ban hành hướng dẫn, việc Việt Nam thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo và đưa vào hiệu lực từ ngày 1/3 đưa nước ta trở thành một trong số ít quốc gia ban hành văn bản chính sách pháp luật chuyên biệt về trí tuệ nhân tạo ở cấp độ luật do Quốc hội thông qua.

Chủ động quản trị, phân loại rủi ro

Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, trí tuệ nhân tạo là công nghệ có sức lan tỏa mạnh mẽ trong nhiều thập kỷ qua, tác động đến cấu trúc kinh tế và phương thức quản trị quốc gia. “Không thể để AI phát triển tự do ngoài khung pháp lý. Luật được ban hành để vừa mở đường cho phát triển, vừa chủ động quản trị rủi ro,” Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nêu rõ.

Bộ trưởng khẳng định, AI là công cụ hỗ trợ, quyết định cuối cùng trong những vấn đề quan trọng của xã hội vẫn phải do con người đảm trách. Đây là nguyên tắc được quán triệt trong quá trình xây dựng luật.

Luật quy định hệ thống trí tuệ nhân tạo được phân loại theo ba mức rủi ro: cao, trung bình và thấp. Nhà cung cấp có trách nhiệm tự phân loại trước khi đưa vào sử dụng, căn cứ hướng dẫn kỹ thuật sẽ được ban hành. Trường hợp không xác định được mức độ, nhà cung cấp có thể đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ.

Đối với hệ thống AI rủi ro cao, nhà cung cấp phải thiết kế bảo đảm khả năng giám sát và can thiệp của con người; lập, cập nhật, lưu giữ hồ sơ kỹ thuật và nhật ký hoạt động ở mức cần thiết để phục vụ đánh giá sự phù hợp và kiểm tra sau khi đưa vào sử dụng.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Luật cũng quy định việc cung cấp thông tin phải “tương xứng với mục đích kiểm tra” và “không làm lộ bí mật kinh doanh.”

Bên cạnh đó, người sử dụng hệ thống AI rủi ro cao phải tuân thủ quy trình vận hành, hướng dẫn kỹ thuật, biện pháp bảo đảm an toàn; không can thiệp trái phép làm thay đổi tính năng của hệ thống. Cơ chế kiểm tra, giám sát được thiết kế theo mức rủi ro.

Hệ thống rủi ro cao được kiểm tra định kỳ hoặc khi có dấu hiệu vi phạm; rủi ro trung bình được giám sát thông qua báo cáo, kiểm tra chọn mẫu hoặc đánh giá của tổ chức độc lập; hệ thống rủi ro thấp được kiểm tra khi có sự cố, phản ánh hoặc khi cần thiết để bảo đảm an toàn.

Đối với hệ thống AI đã được đưa vào hoạt động trước ngày luật có hiệu lực, nhà cung cấp và bên triển khai thực hiện nghĩa vụ tuân thủ trong vòng 18 tháng đối với lĩnh vực y tế, giáo dục, tài chính và trong 12 tháng đối với các lĩnh vực còn lại.

Để cụ thể hóa quy định này, Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao. Dự thảo xác định danh mục trên cơ sở đánh giá tiêu chí phân loại rủi ro, bảo đảm rõ ràng, minh bạch và khả thi.

Hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao được đưa vào danh mục khi kết quả của hệ thống được sử dụng làm căn cứ hoặc yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến việc đưa ra quyết định ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ hoặc lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; khi sai lệch hoặc sự cố có thể gây hậu quả nghiêm trọng, khó khắc phục; có phạm vi triển khai rộng; hoặc rủi ro không thể được kiểm soát đầy đủ bằng các quy định pháp luật khác.

Tiêu chí xác định hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao gồm 5 nhóm: Tác động đến quyền con người và quyền, lợi ích hợp pháp; an toàn, an ninh và lợi ích công cộng; lĩnh vực và bối cảnh sử dụng, trong đó có các lĩnh vực thiết yếu như y tế, giáo dục, lao động, việc làm, tài chính, tín dụng, bảo hiểm, giao thông, năng lượng, hạ tầng thiết yếu, quản lý nhà nước, tư pháp; mức độ tự động hóa và vai trò kiểm soát của con người; phạm vi người sử dụng và quy mô ảnh hưởng.

Danh mục dự kiến gồm 4 nhóm hệ thống: hệ thống tác động đến quyền con người; hệ thống ảnh hưởng đến an toàn, an ninh; hệ thống trong các lĩnh vực thiết yếu, liên quan mật thiết tới lợi ích công cộng và hệ thống có quy mô ảnh hưởng lớn hoặc khó khắc phục.

Yêu cầu minh bạch đối với nội dung do AI tạo ra

Luật Trí tuệ nhân tạo quy định các hệ thống trí tuệ nhân tạo tương tác trực tiếp với con người phải được thiết kế, vận hành để người sử dụng nhận biết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nhà cung cấp phải bảo đảm nội dung âm thanh, hình ảnh, video do hệ thống AI tạo ra được đánh dấu ở định dạng máy đọc theo quy định của Chính phủ.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Bên triển khai có trách nhiệm thông báo rõ ràng khi cung cấp ra công cộng văn bản, âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng AI nếu nội dung đó có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật.

Đối với nội dung nhằm mô phỏng, giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế, bên triển khai phải gắn nhãn dễ nhận biết để phân biệt với nội dung thật.

Với tác phẩm điện ảnh, nghệ thuật hoặc sáng tạo, việc gắn nhãn được thực hiện theo phương thức phù hợp, bảo đảm không làm cản trở việc hiển thị, trình diễn hoặc thưởng thức tác phẩm.

Luật cũng dành một chương quy định về phát triển hạ tầng và bảo đảm chủ quyền trí tuệ nhân tạo quốc gia. Theo đó, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI cốt lõi được hưởng chính sách ưu đãi và hỗ trợ đặc thù theo quy định pháp luật.

Tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực AI được hưởng ưu đãi và hỗ trợ cao nhất theo quy định; được tạo điều kiện tiếp cận hạ tầng, dữ liệu, môi trường thử nghiệm phục vụ nghiên cứu, sản xuất, thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ AI.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ về chi phí, đào tạo và kết nối thị trường. Sản phẩm, dịch vụ AI trong nước được Nhà nước ưu tiên sử dụng theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

Luật cũng quy định phát triển nguồn nhân lực AI theo hướng liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo; tích hợp nội dung cơ bản về trí tuệ nhân tạo, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức công nghệ vào chương trình bắt buộc.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học được khuyến khích xây dựng chương trình đào tạo về AI, khoa học dữ liệu và chuyên ngành liên quan; tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, tổ chức quốc tế.

Để nhanh chóng đưa Luật Trí tuệ nhân tạo vào cuộc sống, ngày 3/3/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng đã ký ban hành Quyết định số 367/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo.

Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn, tiến độ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan; bảo đảm triển khai kịp thời, đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả; đồng thời nâng cao nhận thức về Luật và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc thi hành.

Theo Kế hoạch này, 7 nhóm nhiệm vụ được đề ra, trong đó có tổ chức truyền thông, phổ biến, tập huấn về nội dung Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành trong năm 2026 và các năm tiếp theo; rà soát, công bố hoặc trình cấp có thẩm quyền công bố việc tiếp tục hiệu lực (một phần) đối với các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Công nghiệp Công nghệ số số 71/2025/QH15; rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và gửi kết quả về Bộ Khoa học và Công nghệ để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Cũng theo Kế hoạch trên, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì xây dựng Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo; Nghị định quy định về Quỹ Phát triển trí tuệ nhân tạo quốc gia; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về Danh mục bộ dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực thiết yếu và Quyết định ban hành Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư về Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia theo thẩm quyền; đồng thời thực hiện rà soát, cập nhật định kỳ hoặc khi có thay đổi lớn về công nghệ, pháp luật và thực tiễn quản lý.

Trong giai đoạn 2026-2027, Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập Quỹ Phát triển trí tuệ nhân tạo quốc gia; phát triển cụm liên kết trí tuệ nhân tạo theo mô hình kết hợp giữa không gian vật lý tập trung và mạng lưới liên kết số.Việc ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo và Kế hoạch triển khai thi hành không chỉ hoàn thiện khung pháp lý đối với AI, mà còn tạo nền tảng để quản lý rủi ro, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo trong nước, bảo đảm Luật Trí tuệ nhân tạo được thực thi đồng bộ, hiệu quả trong thời gian tới.

vietnamplus.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Đinh Thị Phương Nhung và những sáng kiến thu hẹp khoảng cách số

Đinh Thị Phương Nhung và những sáng kiến thu hẹp khoảng cách số

Trao đổi qua điện thoại, chị Đinh Thị Phương Nhung khá khiêm tốn khi nhắc đến những thành tích mà mình đã đạt được. Nhưng khi nói đến chủ đề chuyển đổi số, chị Phương Nhung lại chia sẻ công việc và những dự định của mình với tất cả niềm đam mê. Với chị Nhung, góp sức đưa cái mới về với bản làng là trách nhiệm của những người trẻ tuổi.

Khi phụ nữ vùng cao hội nhập

Khi phụ nữ vùng cao hội nhập

Ở những bản làng vùng cao Lào Cai, nhiều phụ nữ từng gặp khó khăn khi tiếp cận công nghệ và thông tin. Nay, nhờ các cán bộ nữ “đi từng ngõ, gõ từng nhà” hướng dẫn sử dụng smartphone và dịch vụ công trực tuyến, công nghệ số đang trở thành đòn bẩy, mở ra cơ hội học tập, lao động và thay đổi cuộc sống cho chị em đồng bào dân tộc thiểu số.

“Chìa khóa” mở cửa kỷ nguyên số

“Chìa khóa” mở cửa kỷ nguyên số

Không đơn thuần là ứng dụng lưu trữ giấy tờ điện tử, VNeID đã trở thành “hệ sinh thái số” đa tiện ích. Với hàng loạt tính năng mới được cập nhật, VNeID không chỉ giúp người dân thoát khỏi cảnh “tay xách nách mang” nhiều giấy tờ mà còn trực tiếp giải quyết những “điểm nghẽn” hành chính bấy lâu nay, mở ra phương thức giao dịch hiện đại, minh bạch và an toàn.

Tuổi trẻ xã Văn Bàn năng động chuyển đổi số, nâng cao thu nhập

Tuổi trẻ xã Văn Bàn năng động chuyển đổi số, nâng cao thu nhập

Là xã vùng cao của tỉnh, Văn Bàn từng phải đối mặt với tình trạng nhiều thanh niên rời quê đi làm thuê ở xa do không có việc làm. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, trên địa bàn xã ngày càng có nhiều mô hình thanh niên khởi nghiệp thành công nhờ ứng dụng hiệu quả các nền tảng số, đem lại nguồn thu nhập ổn định và tạo việc làm cho lao động nông thôn.

Không gian mạng an toàn - Điều kiện tiên quyết cho chuyển đổi số

Không gian mạng an toàn - Điều kiện tiên quyết cho chuyển đổi số

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế số, xã hội số. Tại Lào Cai, thời gian qua đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi an ninh mạng được giữ vững, tạo nền tảng quan trọng cho việc triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số trên địa bàn.

Vì sự hài lòng của Nhân dân

Vì sự hài lòng của Nhân dân

Hưởng ứng mạnh mẽ công cuộc chuyển đổi số quốc gia, tỉnh Lào Cai đã thể hiện rõ quyết tâm nhanh chóng xây dựng chính quyền điện tử, tất cả nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Phát thanh trực tiếp 2026: Tìm lời giải chinh phục công chúng trong kỷ nguyên mới

Phát thanh trực tiếp 2026: Tìm lời giải chinh phục công chúng trong kỷ nguyên mới

Hội thảo phát thanh trực tiếp năm 2026 thu hút hơn 500 đại biểu, tập trung bàn giải pháp nâng cao chất lượng chương trình trong bối cảnh cạnh tranh truyền thông số. Nhiều kinh nghiệm, kỹ năng nhằm thu hút và giữ chân công chúng, cũng như phát huy vai trò của phát thanh trực tiếp trong thời đại mới đã được chia sẻ.

Lào Cai ứng dụng chuyển đổi số trong chăn nuôi

Lào Cai ứng dụng chuyển đổi số trong chăn nuôi

Chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực, định hình lại diện mạo các ngành kinh tế. Đối với tỉnh Lào Cai, việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nông nghiệp, đặc biệt là ngành chăn nuôi, được xác định là động lực trung tâm để hiện thực hóa mục tiêu phát triển toàn diện, bền vững và hiện đại.

Lào Cai không để hồ sơ trễ hạn trong lĩnh vực đất đai

Lào Cai không để hồ sơ trễ hạn trong lĩnh vực đất đai

Cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, vốn được xem là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm luôn là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tại Lào Cai, với nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt và hướng đến thực chất, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang nỗ lực kiểm soát tiến độ, giảm tối đa hồ sơ trễ hạn, từng bước xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, minh bạch.

Hiệu quả từ số hóa hồ sơ, giấy tờ trong giải quyết thủ tục hành chính

Hiệu quả từ số hóa hồ sơ, giấy tờ trong giải quyết thủ tục hành chính

Trong tiến trình cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số, việc số hóa hồ sơ, giấy tờ đang trở thành một trong những giải pháp trọng tâm, mang lại những chuyển biến rõ nét trong hoạt động của cơ quan nhà nước cũng như trải nghiệm của người dân. Quá trình số hóa hồ sơ trong tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) cho thấy hiệu quả thiết thực, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân.

"Dòng họ số" trên đỉnh Suối Giàng

"Dòng họ số" trên đỉnh Suối Giàng

Từ những thao tác còn bỡ ngỡ ban đầu, đến nay, mỗi gia đình trong dòng họ Giàng ở Suối Giàng (xã Văn Chấn) không chỉ làm quen với công nghệ mà đã trở thành những “công dân số” thực thụ. Sự thay đổi ấy đang mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế, gìn giữ bản sắc văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào nơi đây.

Di sản và tri thức trong hành trình số hóa nâng cao

Di sản và tri thức trong hành trình số hóa nâng cao

Sau giai đoạn đẩy mạnh số hóa dữ liệu, các thiết chế văn hóa, đặc biệt là bảo tàng và thư viện tỉnh đang bước sang giai đoạn chuyển đổi số nâng cao. Không gian trưng bày, tra cứu và trải nghiệm được mở rộng trên môi trường số, giúp di sản và tri thức đến với công chúng nhanh hơn, gần hơn và phù hợp với xu hướng tiếp cận hiện đại.

fb yt zl tw