Đánh thức di sản

Di sản văn hóa Việt Nam vô cùng phong phú. Tuy nhiên, hiện nay nhiều di sản đã và đang đứng trước nguy cơ mai một, trong khi nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác bảo vệ, tu bổ, tôn tạo di tích còn rất thấp…

Ninh Bình - vùng đất có bề dày lịch sử và văn hóa.
Ninh Bình - vùng đất có bề dày lịch sử và văn hóa.

Khai thác hiệu quả giá trị danh hiệu

Theo Cục Di sản văn hóa (DSVH) (Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch), qua kiểm kê của các địa phương trên cả nước, hiện có khoảng 4 vạn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh phân bố trên khắp các vùng miền trong cả nước, đã được kiểm kê, lập danh mục theo quy định của Luật DSVH.

Trong đó, có 8 DSVH và thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận, 128 di tích quốc gia đặc biệt, 3.614 di tích quốc gia, hơn 10.000 di tích cấp tỉnh. Cùng với kho tàng DSVH vật thể, đất nước ta còn có một kho tàng DSVH phi vật thể đa dạng về loại hình, phong phú về trữ lượng, đặc sắc về lịch sử, văn hóa, khoa học.

Đến nay, đã có khoảng 70.000 DSVH phi vật thể được kiểm kê trên địa bàn cả nước, trong đó có 498 DSVH phi vật thể được đưa vào Danh mục DSVH phi vật thể quốc gia, 15 DSVH phi vật thể được UNESCO ghi danh tại các Danh mục DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại và DSVH phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. UNESCO cũng đã ghi danh 9 di sản tư liệu thuộc chương trình Ký ức thế giới.

PGS.TS Lê Thị Thu Hiền - Cục trưởng Cục DSVH nhận định, nhiều di sản khi được xếp hạng hay ghi danh và được đầu tư bảo vệ, phát huy đã trở thành địa chỉ thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế. Điển hình như Quần thể di tích Cố đô Huế và vịnh Hạ Long từ khi được ghi danh đã thu hút hàng triệu khách tới tham quan nghiên cứu. Hay Quần thể danh thắng Tràng An, thời điểm lập hồ sơ đề cử năm 2012 chỉ có trên 1 triệu lượt khách, đến năm 2019, sau 5 năm UNESCO ghi danh, con số lên 6,5 triệu lượt khách.

Với khu phố cổ Hội An, từ gần 879.000 lượt khách năm 2006, tăng lên 2,5 triệu lượt, năm 2019. Điều quan trọng, so với GDP toàn thành phố, nguồn khách và nguồn thu từ các dịch vụ chiếm tới 70%.

Các danh hiệu UNESCO đã góp phần hình thành thương hiệu cho mỗi địa phương và đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội thông qua thu hút khách du lịch, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng xanh.

“Rõ ràng DSVH đã và đang trở thành nguồn lực xã hội, không chỉ với những DSVH thế giới, mà với cả dọc dài miền Trung gió cát, nay đã trở thành “con đường di sản”, chạy suốt từ Bắc Trung Bộ xuống Nam Trung Bộ và Tây Nguyên” - PGS.TS Lê Thị Thu Hiền chia sẻ.

Đầu tư xứng tầm

Thành tựu của ngành di sản thông qua những con số nêu trên là không thể phủ nhận. Thế nhưng, trên thực tế, nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác bảo vệ, tu bổ, tôn tạo di tích còn rất thấp so với nhu cầu thực tế. Bên cạnh đó, hiện nay việc quy hoạch mới chỉ dừng lại ở di tích, chưa quan tâm tới thực tiễn phát triển vùng miền, chưa quan tâm tới đời sống cộng đồng, thiếu đi sự phát triển bền vững.

Dẫn chứng từ địa phương, Ths Nguyễn Thị Lương - Ban Quản lý di tích tỉnh Nghệ An thông tin, ngoài các di tích trọng điểm, tại các di tích còn lại, phần lớn chưa được đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất. Trong khuôn viên di tích, cơ bản thiếu các công trình phụ trợ. Một số di tích nằm ở vị trí sâu hoặc ở lưng chừng núi, đường vào rất khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa. Hệ thống quán ăn, nhà nghỉ xung quanh nhiều di tích, nhất là di tích ở nông thôn và miền núi cũng thưa thớt, tạm bợ. Có nơi du khách đến tham quan di tích nhưng phải quay trở lại mấy chục cây số mới có nhà nghỉ, khách sạn.

Còn theo TS Phạm Quốc Quân - nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, chính sách đầu tư cho văn hóa nói chung, DSVH nói riêng còn hạn chế so với những lĩnh vực khác. Đầu tư cho nghiên cứu, đào tạo, cho tu bổ di tích, cho bảo quản hiện vật… từ nguồn ngân sách nhà nước đã thấp, nhưng từ nguồn kinh phí xã hội hóa, lại chủ yếu được ưu tiên cho những công trình mới.

Có lẽ vì thế, hiện nay tại Thừa Thiên Huế, quỹ bảo tồn di sản Huế do Chính phủ thành lập và giao cho địa phương quản lý, nhằm huy động nguồn lực để trùng tu, bảo tồn, phát triển giá trị di sản Huế. Cách làm này đã mang lại hiệu quả rất cao. Tháng 6/2024 Thừa Thiên Huế đã tổ chức khánh thành dự án tu bổ lăng hoàng hậu Từ Dũ hoàn toàn từ nguồn quỹ này.

Ông Quân cũng cho rằng, không thể phủ nhận những công trình mới, trong đó, nhiều công trình đem lại hiệu quả cho xã hội, cho cộng đồng, nhưng để cho những chùa chiền, đền miếu cổ xuống cấp là một vấn đề còn tồn tại của nhiều địa phương mà chúng ta cần phải có giải pháp giải quyết trong thời gian sớm nhất.

Và cách huy động nguồn lực để tu bổ lăng Hoàng hậu Từ Dũ của Thừa Thiên Huế cần được tiếp tục lan tỏa tại các địa phương có di sản. Tuy nhiên, để làm được việc này, theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội cần phải có thêm những quy định cụ thể, chặt chẽ để khuyến khích các tổ chức, cá nhân ủng hộ quỹ bảo tồn DSVH. Ví như việc sử dụng, tổ chức, quản lý, điều hành, phân phối quỹ cần cụ thể hóa bằng những quy định chi tiết nhằm đảm bảo sự minh bạch, khách quan, tạo niềm tin cho nhà đầu tư cũng như có hình thức tôn vinh phù hợp.

Theo daidoanket.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bài 3: Lắng sâu giai điệu dân ca

Nhịp điệu Sông Hồng - vang mãi ngàn năm: Bài 3: Lắng sâu giai điệu dân ca

Cùng với tìm hiểu những di tích lịch sử văn hóa chứa đựng hoạt động tín ngưỡng tâm linh độc đáo, trong hành trình đến với vùng đất nơi sông Hồng chảy qua, chúng tôi còn được tìm hiểu, trải nghiệm không gian diễn xướng, nghệ thuật trình diễn dân gian của những làn điệu dân ca. Mỗi lời hát, điệu múa thấm đượm tình người hồn hậu, tạo nên nét văn hóa độc đáo ở các vùng quê nơi dòng "sông Mẹ" chảy qua.

Bài 2: Linh thiêng tín ngưỡng thờ Mẫu

Nhịp điệu Sông Hồng - vang mãi ngàn năm Bài 2: Linh thiêng tín ngưỡng thờ Mẫu

Trong hành trình khám phá di sản văn hóa phi vật thể dọc sông Hồng, chúng tôi có dịp đến thăm nhiều di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia tại các tỉnh và tìm hiểu nhiều nét văn hóa đẹp của các địa phương, các dân tộc. Dọc dài đôi bờ dòng sông, tín ngưỡng thờ Mẫu sâu đậm trong đời sống văn hóa tâm linh của các cộng đồng.

Bài 1: Văn hóa tâm linh miền sông nước

Nhịp điệu Sông Hồng - vang mãi ngàn năm: Bài 1: Văn hóa tâm linh miền sông nước

Sông Hồng là dòng sông lớn nhất miền Bắc, được coi là dòng sông mẹ, bồi đắp phù sa cho các khu vườn ven sông trải dài từ nơi chảy vào đất Việt là Lào Cai đến hạ lưu là cửa biển Ba Lạt (tỉnh Thái Bình). Từ những bãi bồi phì nhiêu, cư dân khắp nơi đã cùng tụ họp về đây từ buổi dựng nước Văn Lang (theo các dấu tích khảo cổ, nhiều hiện vật được tìm thấy là minh chứng người Việt cổ đã cư trú ở đây từ thời kỳ dựng nước Văn Lang), tạo nên những ngôi làng cổ hàng nghìn năm.

Gợi mở thêm hướng đi cho nhiếp ảnh

Gợi mở thêm hướng đi cho nhiếp ảnh

Ngành nhiếp ảnh Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ cùng sự bùng nổ của công nghệ thông tin, song cũng đối mặt nhiều thách thức như định giá sản phẩm, bảo vệ bản quyền và cơ hội nghề nghiệp. Mới đây, mô hình Hợp tác xã Nhiếp ảnh và Ứng dụng đầu tiên đã hình thành tại thành phố Đà Nẵng. Nếu ý tưởng này thành công, hy vọng sẽ thúc đẩy phát triển lĩnh vực nhiếp ảnh một cách chuyên nghiệp, bền vững.

Thêm niềm vui sống từ yêu mến thơ ca

Thêm niềm vui sống từ yêu mến thơ ca

Đầu xuân, khi vùng núi cao Bắc Hà chìm trong sắc trắng mận Tam hoa, tôi tình cờ gặp bà Đặng Thị Nguyệt Ánh, 75 tuổi, ở tổ dân phố Bắc Hà 2, thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà tại Hội báo Xuân. Đối với người yêu thơ, thích đọc sách như bà Ánh thì đây chính là cơ hội để được thỏa mãn đam mê đọc và bổ sung kiến thức bổ ích từ những cuốn sách, tờ báo, tạp chí từ khắp mọi miền.

Chân dung nhà báo Ma Văn Kháng

Gặp gỡ nhà văn Ma Văn Kháng (Phần 2) Chân dung nhà báo Ma Văn Kháng

Nhà văn Ma Văn Kháng hiện đang sinh sống cùng gia đình ở Thủ đô Hà Nội. Năm nay, nhà văn bước vào tuổi 89, nhưng tinh thần và sức sáng tạo của ông thì vẫn rất mạnh mẽ. Ông vẫn là cộng tác viên thường xuyên và đều đặn của tạp chí Xây dựng Đảng, Báo Văn nghệ. Đặc biệt, ông vẫn thường xuyên gửi bài viết, truyện ngắn cộng tác với "Báo nhà" - tên gọi thân thương mà nhà văn dành cho Báo Lào Cai.

[Ảnh] Tinh hoa nghề gốm Bát Tràng

Hành trình dọc sông Hồng: [Ảnh] Tinh hoa nghề gốm Bát Tràng

Theo Đại Việt sử ký toàn thư và Dư địa chí của Nguyễn Trãi, làng gốm Bát Tràng được hình thành từ thời nhà Lý, vào khoảng thời gian vua Lý Thái Tổ dời đô từ Thăng Long ra Hoa Lư. Các sản phẩm gốm Bát Tràng đã phát triển, lưu thông rộng rãi trong nước từ thế kỷ XV, đến thế kỉ XVI, XVII phát triển mạnh mẽ và xuất khẩu ra nước ngoài. Trải qua thăng trầm của lịch sử, làng gốm Bát Tràng vẫn luôn giữ được nét đẹp truyền thống, tự hào là làng nghề gốm sứ lâu đời và nổi tiếng nhất của cả nước.

Gặp gỡ nhà văn Ma Văn Kháng (Phần 1)

Gặp gỡ nhà văn Ma Văn Kháng (Phần 1)

Nhà văn Ma Văn Kháng sinh năm 1936 tại Hà Nội. Ông đã có hơn hai thập kỷ gắn bó với mảnh đất biên cương Lào Cai. Đặc biệt, những năm tháng công tác tại Báo Lào Cai đã giúp ông đi sâu vào cuộc sống vùng cao, tích lũy vốn hiểu biết phong phú và truyền cảm hứng cho nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải, Xa Phủ... Để hiểu hơn về cuộc đời, sự nghiệp của ông, mời quý vị và các bạn cùng theo dõi cuộc gặp gỡ của phóng viên Báo Lào Cai với nhà văn Ma Văn Kháng.

Thách thức trong bảo tồn hai chiếc thuyền cổ ở Bắc Ninh

Thách thức trong bảo tồn hai chiếc thuyền cổ ở Bắc Ninh

Liên quan đến việc khai quật 2 chiếc thuyền cổ ở khu phố Công Hà, phường Hà Mãn, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, ngày 26/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh phối hợp với Viện Khảo cổ học tổ chức hội thảo đánh giá sơ bộ kết quả khai quật thuyền cổ.

Bắc Ninh bùng nổ tour du lịch miễn phí theo dấu MV 'Bắc Bling'

Bắc Ninh bùng nổ tour du lịch miễn phí theo dấu MV 'Bắc Bling'

Khi MV "Bắc Bling (Bắc Ninh)" của ca sĩ Hòa Minzy được công bố và lan tỏa mạnh mẽ trên các nền tảng số, tỉnh Bắc Ninh đã nhanh chóng triển khai chương trình tour du lịch miễn phí mang tên "Tinh hoa văn hóa Bắc Ninh – Sắc màu di sản". Đây được xem là bước đi nhạy bén, tận dụng sức ảnh hưởng của văn hóa đại chúng để quảng bá hình ảnh vùng đất quan họ.

fb yt zl tw