Thời gian gần đây, thôn, tổ dân phố trở thành địa bàn mà các phần tử cơ hội chính trị và thế lực thù địch tập trung chống phá.
Nguyên nhân là bởi đây là nơi người dân trực tiếp cảm nhận chất lượng quản trị và hình thành niềm tin đối với Đảng, Nhà nước qua những vấn đề thiết thực của đời sống hằng ngày.
Khi niềm tin ở cấp cơ sở bị suy giảm, hiệu ứng hoài nghi sẽ lan tỏa, tạo điều kiện để các đối tượng quy chụp và phủ nhận hiệu quả của cả hệ thống chính trị.
Vì vậy, mục tiêu của chúng không dừng ở việc xuyên tạc một chính sách hay một vụ việc cụ thể, mà từng bước làm sai lệch nhận thức nền tảng về quản trị, từ đó tác động đến sự đồng thuận xã hội ngay từ cơ sở.
Các đối tượng liên tục tạo dựng và lan truyền một số luận điệu chủ yếu sau: Một là, xuyên tạc việc sắp xếp thôn, tổ dân phố là “xóa bỏ văn hóa làng xã”. Đây là thủ đoạn cố tình đánh đồng việc sắp xếp tổ chức hành chính với xóa bỏ bản sắc văn hóa nhằm phủ nhận chủ trương tinh gọn bộ máy.
Lợi dụng tâm lý hoài niệm, các đối tượng dựng lên sự đối lập giả tạo giữa bảo tồn truyền thống và đổi mới quản trị, chuyển hướng tranh luận từ hiệu quả của cải cách sang nỗi lo “mất làng, mất văn hóa”, qua đó dẫn dắt dư luận đánh giá chính sách bằng cảm xúc thay vì trên cơ sở lý trí và lợi ích phát triển lâu dài.
Song việc sắp xếp thôn, tổ dân phố là nhằm tinh gọn tổ chức, tập trung nguồn lực và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị ở cơ sở. Văn hóa làng xã không được xác lập bởi tên gọi hay ranh giới hành chính mà được kết tinh từ lịch sử, phong tục, tín ngưỡng, thiết chế văn hóa và sự gắn kết bền chặt của cộng đồng dân cư.
Vì vậy, điều chỉnh đơn vị hành chính không làm mất đi bản sắc văn hóa mà còn tạo điều kiện phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn để gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống.
Hai là, xuyên tạc hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Các đối tượng thường khai thác những khó khăn phát sinh trong giai đoạn chuyển tiếp, cắt rời khỏi bối cảnh cải cách để quy chụp thành bằng chứng cho sự thất bại của mô hình. Lập luận này cố tình đồng nhất những vướng mắc, khó khăn ở cơ sở với hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp.
Trên thực tế, mọi cuộc cải cách tổ chức bộ máy đều cần thời gian để hoàn thiện thể chế, kiện toàn đội ngũ cán bộ và điều chỉnh phương thức vận hành.
Những khó khăn ban đầu là hiện tượng thường gặp trong quá trình cải cách tổ chức bộ máy ở mọi quốc gia.
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp hướng tới giảm tầng nấc trung gian, phân định rõ thẩm quyền, tăng trách nhiệm giải trình, đẩy mạnh phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực và phát huy hiệu quả chuyển đổi số.
Khi cơ chế vận hành được hoàn thiện, thủ tục hành chính sẽ thông suốt hơn, chi phí xã hội giảm xuống, tính công khai, minh bạch được nâng cao và người dân được phục vụ thuận lợi hơn.
Do đó, hiệu quả của mô hình cần được đánh giá trong một tiến trình cải cách và trên cơ sở lợi ích lâu dài đối với người dân, thay vì dựa vào những hiện tượng đơn lẻ của giai đoạn chuyển tiếp.
Ba là, lợi dụng dân chủ ở cơ sở và cơ chế tự quản cộng đồng để kích động chia rẽ giữa nhân dân với chính quyền. Các đối tượng thường xuyên đồng nhất hoạt động xã hội hóa với “lạm thu”, xuyên tạc hương ước, quy ước thành “luật làng đối kháng pháp luật”, từ đó tạo cảm giác quyền làm chủ của người dân bị xâm phạm hoặc bị lợi dụng.
Trên thực tế, các khoản đóng góp ở cộng đồng dân cư được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, công khai, minh bạch và chịu sự giám sát của người dân. Hương ước, quy ước là công cụ tự quản hợp pháp, góp phần xây dựng nếp sống văn minh và hỗ trợ thực thi pháp luật. Bản chất của thủ đoạn này là chính trị hóa những hiện tượng cá biệt.
Từ một vụ việc cụ thể, các đối tượng tách khỏi bối cảnh, khuếch đại trên không gian mạng rồi quy kết cho cả hệ thống nhằm làm suy giảm niềm tin xã hội và phá vỡ mối quan hệ gắn bó giữa nhân dân với cấp ủy, chính quyền cơ sở.
Bốn là, xuyên tạc quá trình chuyển đổi số và hiện đại hóa quản trị quốc gia. Khi chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của cải cách hành chính, các thế lực thù địch cũng chuyển trọng tâm chống phá sang không gian số.
Thủ đoạn phổ biến là biến mục tiêu “phục vụ người dân” thành “kiểm soát người dân”, đồng thời khuếch đại những hạn chế trong giai đoạn đầu triển khai nhằm gây tâm lý nghi ngờ đối với tiến trình xây dựng Chính phủ số, xã hội số và công dân số.
Tuy nhiên, bản chất của chuyển đổi số là nâng cao chất lượng phục vụ người dân, giảm chi phí xã hội, tăng tính công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả quản trị.
Những khó khăn hiện nay chủ yếu phản ánh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số, nâng cao năng lực quản trị và kỹ năng số cho cán bộ, người dân. Vì vậy, không thể lấy những hạn chế trước mắt để phủ nhận xu hướng tất yếu của quá trình hiện đại hóa quản trị quốc gia.
Năm là, lợi dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và mạng xã hội để chính trị hóa các vụ việc ở cơ sở. Đây là phương thức chống phá nguy hiểm vì AI tạo sinh cho phép tạo ra hình ảnh, âm thanh, video hoặc tài liệu giả nhưng mang hình thức của chứng cứ xác thực.
Ranh giới giữa thật và giả vì thế ngày càng khó nhận biết, tạo điều kiện cho các hoạt động thao túng thông tin. Các đối tượng thường lợi dụng những sự kiện đang thu hút dư luận, kết hợp AI tạo sinh, tài khoản ảo và cơ chế lan truyền của mạng xã hội để tạo hiệu ứng đám đông.
Khi thông tin sai lệch được lặp lại với tần suất lớn, nhiều người dễ tiếp nhận như một sự thật mà không kiểm chứng nguồn gốc. Nguy hiểm nhất không nằm ở bản thân công nghệ mà ở việc tạo dựng một “hiện thực giả” nhằm thay thế hiện thực khách quan trong nhận thức xã hội.
Vì vậy, cùng với việc hoàn thiện cơ chế quản lý, điều quan trọng là nâng cao năng lực nhận diện, kiểm chứng và phản bác thông tin sai lệch của cán bộ, đảng viên và người dân, qua đó bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh và giữ vững “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước hết cần bắt đầu từ việc củng cố, giữ vững niềm tin của người dân ở từng thôn, từng tổ dân phố.
Trong bối cảnh không gian thông tin ngày càng đa chiều, thách thức không chỉ nằm ở việc nhận diện thông tin sai lệch, phản động, mà quan trọng hơn là hình thành năng lực sàng lọc, phân tích và tự điều chỉnh nhận thức của mỗi cá nhân trước các dòng thông tin phức tạp.
Cùng với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần tiếp tục nâng cao chất lượng quản trị ở cơ sở, phát huy dân chủ, tăng cường công khai, minh bạch và xây dựng năng lực “miễn dịch nhận thức” cho cộng đồng trước thông tin xấu độc.
Sức đề kháng bền vững trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá nằm ở chất lượng quản trị, sự đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân được bồi đắp từ cơ sở. Khi nền tảng ấy được củng cố vững chắc, mọi thủ đoạn chống phá sẽ tự thất bại.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ CAO VĂN TRỌNG