Việt Nam: 80 năm xây dựng mô hình phát triển quốc gia bền vững và tự cường

Sau thời kỳ đấu tranh giành độc lập, Việt Nam đang bước đến thềm của một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, thịnh vượng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

cang-bien.jpg
Quy mô kinh tế Việt Nam hiện đứng thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á.

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đánh dấu bước ngoặt lịch sử: Sau hơn 80 năm bị thực dân đô hộ, dân tộc Việt Nam chính thức bước vào kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do, nhân dân làm chủ đất nước. Sự kiện này không chỉ kết thúc một chuỗi dài đêm trường nô lệ, mà còn mở ra cánh cửa cho một hành trình kiến tạo đầy gian khó nhưng vô cùng kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam anh hùng.

80 năm qua thực sự là một tiến trình chuyển mình mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam từ một quốc gia vừa giành được độc lập sang là một quốc gia vươn lên kiến thiết tương lai với rất nhiều điểm nổi bật.

Kinh tế quốc dân: Từ đói nghèo đến phát triển năng động

Năm 1945, sau khi ra đời, Việt Nam sở hữu một nền kinh tế kiệt quệ, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chưa đạt nổi vài chục triệu USD. Đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này là nền kinh tế nông thôn, quy mô kinh tế rất thấp, tiềm lực yếu kém. GDP bình quân đầu người năm 1945 chỉ đạt 60 đồng, tương đương 35 USD, mức sống phổ thông bị đẩy xuống ngưỡng sinh tồn.

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Vũ Trọng Lâm, Giám đốc-Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Vũ Trọng Lâm, Giám đốc-Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Đến năm 2024, sau gần 80 năm đấu tranh gìn giữ nền độc lập và kiến thiết, đổi mới, xây dựng đất nước, Việt Nam có quy mô GDP đạt 476,3 tỷ USD, đứng thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á và là nền kinh tế lớn thứ 34 trên thế giới, GDP bình quân đầu người là 4.700 USD - một bước nhảy hơn 130 lần so với năm 1945. Đồng thời, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 786 tỷ USD, tiếp tục giữ vững vị trí trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đầu tư nước ngoài (FDI) gần như bằng không trước năm 1991 đến năm 2024 tổng vốn FDI đăng ký gần 502,8 tỷ USD, vốn thực hiện đạt gần 322,5 tỷ USD.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Công nghiệp chế biến, chế tạo, du lịch, dịch vụ phát triển nhanh; công nghiệp hỗ trợ được đẩy mạnh; nông nghiệp có bước chuyển mạnh; đồng thời, phát triển kinh tế tri thức, kinh tế xanh, kinh tế số được chú trọng.

Chặng đường gần 40 năm Đổi mới đã chứng kiến sự trỗi dậy ngoạn mục của kinh tế Việt Nam.
Chặng đường gần 40 năm Đổi mới đã chứng kiến sự trỗi dậy ngoạn mục của kinh tế Việt Nam.

Việt Nam đang chuyển đổi mạnh mẽ sang nền kinh tế số, công nghiệp công nghệ cao và các mô hình sản xuất dựa trên đổi mới sáng tạo, qua đó, không chỉ có sự gia tăng về lượng mà còn làm thay đổi sâu sắc cả về chất trong năng lực kinh tế của quốc gia.

Hội nhập kinh tế quốc tế được triển khai một cách chủ động và tích cực, đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) với hơn 60 nền kinh tế, mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu, thu hút FDI, tiếp cận công nghệ mới từ các đối tác kinh tế hàng đầu trên thế giới, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Từ “mù chữ” đến phát triển toàn diện và đổi mới sáng tạo

Ở Việt Nam, năm 1945, hơn 90% dân số mù chữ, giáo dục tiểu học và trung học xa rời thực tế, giáo dục đại học chỉ nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ thừa hành bản xứ phục vụ cho hoạt động cai trị của thực dân Pháp.

Đến năm 2025, đại bộ phận người dân trưởng thành đều biết chữ; đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Tỷ lệ học sinh đến trường ở các cấp học đạt gần 99%, mạng lưới giáo dục đại học mở rộng đến hơn 300 trường, trong đó nhiều cơ sở đào tạo công nghệ thông tin, kỹ thuật số và y sinh học được quốc tế công nhận.

Giáo dục hiện đang chuyển dịch từ mục tiêu phổ cập sang định hướng đổi mới.
Giáo dục hiện đang chuyển dịch từ mục tiêu phổ cập sang định hướng đổi mới.

Giáo dục hiện đang chuyển dịch từ mục tiêu phổ cập sang định hướng đổi mới, với việc tích hợp STEM, kỹ năng số và tư duy sáng tạo trở thành các nền tảng chiến lược. Điều này có nghĩa là không chỉ tập trung vào việc bảo đảm cho mọi người có cơ hội tiếp cận giáo dục, mà còn chú trọng đến việc trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi số.

Khoa học-công nghệ đang chuyển mình mạnh mẽ. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học-công nghệ vào sản xuất, kinh doanh được tập trung thúc đẩy. Công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, internet vạn vật và blockchain được đầu tư và phát triển.

Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình có chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) cao, xếp thứ 44 thế giới về GII năm 2024, duy trì kết quả vượt trội trong 13 năm liên tiếp. Hệ sinh thái khởi nghiệp tăng từ vị trí thứ 5 lên vị trí thứ 3 trong 6 nền kinh tế hàng đầu Đông Nam Á. Các mô hình kinh doanh số, tài chính số, blockchain, kinh doanh xanh, và dữ liệu lớn được đẩy mạnh áp dụng, giúp nâng cao hiệu quả, cải thiện trải nghiệm khách hàng và tăng sức cạnh tranh quốc tế. Nổi bật là công nghệ tài chính (Fintech), trò chơi điện tử, trí tuệ nhân tạo (AI) trong học tập và các sản phẩm xanh...

Từ khan hiếm sang bảo đảm toàn dân

Khi giành được độc lập năm 1945, Việt Nam gần như không có hệ thống y tế công cộng quy chuẩn. Người dân chủ yếu dựa vào các phương thức chữa trị truyền thống, thiếu tiếp cận với dịch vụ y tế cơ bản. Tuổi thọ trung bình của người dân năm 1945 chỉ đạt 38 tuổi, trong khi tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và do các bệnh truyền nhiễm vượt ngưỡng 100/1.000 ca sinh sống. Năm 1945, dịch tả diễn ra ở nhiều nơi, làm hàng vạn người chết. Nạn đói, rét đã sản sinh ra vô số loại bệnh tật mà trước đó chưa được gọi tên. Trên mọi nẻo đường đất nước, nhất là ở nông thôn, các thị trấn nhỏ, người Việt Nam trông thật tiều tụy, rách rưới, bẩn thỉu, đầy rẫy bệnh tật.

Từ cuối thập niên 1950, các trạm y tế xã, đội tiêm chủng và chiến dịch phòng chống dịch bệnh bắt đầu được hình thành tại miền Bắc.
Từ cuối thập niên 1950, các trạm y tế xã, đội tiêm chủng và chiến dịch phòng chống dịch bệnh bắt đầu được hình thành tại miền Bắc.

Từ cuối thập niên 1950, các trạm y tế xã, đội tiêm chủng và chiến dịch phòng chống dịch bệnh bắt đầu được hình thành tại miền Bắc. Sau năm 1975, mô hình y tế quốc gia được triển khai toàn diện. Đến năm 2025, tuổi thọ trung bình tại Việt Nam đã đạt mức 74,5 tuổi, tăng hơn 36 năm so với thời điểm đất nước độc lập năm 1945. Hệ thống bệnh viện công được hiện đại hóa theo hướng liên thông tuyến dưới - tuyến trung ương, đồng thời triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử tại hơn 80% số địa phương, ứng dụng AI hỗ trợ chẩn đoán bệnh tại nhiều bệnh viện lớn như Bạch Mai, Chợ Rẫy, Trung ương Huế.

Bảo hiểm y tế được phổ cập rộng rãi với tỷ lệ bao phủ toàn dân dự kiến đạt 95% vào năm 2025, một bước tiến vượt bậc so với con số chưa đến 5% trước thập niên 1990. Trong 3 năm 2021-2023, chi thường xuyên cho y tế chiếm 6,8% tổng chi thường xuyên của ngân sách nhà nước, cho thấy mức độ ưu tiên chính sách rõ rệt trong lĩnh vực này. Song hành cùng đó, tỷ lệ nghèo đa chiều đã giảm xuống dưới 5%, từ mức hơn 70% vào cuối những năm 1980, phản ánh hiệu quả của các chương trình an sinh xã hội có trọng điểm: xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ các hộ gia đình yếu thế và thực hiện chính sách ưu tiên cho các khu vực vùng sâu, vùng xa.

Việt Nam đã vượt khỏi mô hình y tế bao cấp sơ khai, tiến tới hệ thống chăm sóc sức khỏe cộng đồng thông minh, tích hợp công nghệ, hành chính hiện đại và quản trị rủi ro xã hội. Việc xác định con người là trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia được thể hiện rõ nét qua chính sách y tế, an sinh và phúc lợi xã hội đầy đủ, minh bạch, có khả năng chống chịu với những biến động toàn cầu như đại dịch COVID-19 và các thách thức an ninh sinh học.

Từ di sản của thực dân đến sức mạnh mềm văn hóa thời hội nhập

Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945, nền văn hóa dân tộc chứa đầy tàn tích của gần một thế kỷ bị thực dân nô dịch. Văn hóa bị bóp nghẹt do chính sách ngu dân của chính quyền thực dân phong kiến, nghệ thuật truyền thống bị xem thường, các hủ tục, tập tục, nghi lễ mê tín dị đoan luôn hiện diện ở khắp mọi ngõ ngách trong đời sống; tầng lớp trí thức bị lôi cuốn theo văn hóa ngoại lai…

Nền nghệ thuật biểu diễn Việt Nam đang tiệm cận với thế giới.
Nền nghệ thuật biểu diễn Việt Nam đang tiệm cận với thế giới.

Sau 80 năm, đến nay, Việt Nam đã từng bước xây dựng được nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển. Văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của sự phát triển; tạo nên thế và lực mới, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sang thế kỷ XXI, đặc biệt là từ khi gia nhập WTO, Việt Nam định hướng phát triển công nghiệp văn hóa như một ngành kinh tế mũi nhọn. Các lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc đương đại, xuất bản, mỹ thuật, thiết kế thời trang… không chỉ góp phần làm gia tăng giá trị sản xuất nội địa mà còn mở rộng xuất khẩu ra thế giới dưới dạng dịch vụ văn hóa. Việt Nam đón gần 18 triệu lượt khách quốc tế năm 2024, trong đó phần lớn lựa chọn du lịch gắn với di sản văn hóa-lịch sử và trải nghiệm bản địa.

Kỳ họp lần thứ 45 của Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO đã gõ búa thông qua hồ sơ đề cử, công nhận quần thể Vịnh Hạ Long-Quần đảo Cát Bà là Di sản Thiên nhiên Thế giới.
Kỳ họp lần thứ 45 của Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO đã gõ búa thông qua hồ sơ đề cử, công nhận quần thể Vịnh Hạ Long-Quần đảo Cát Bà là Di sản Thiên nhiên Thế giới.

Giá trị xuất khẩu dịch vụ văn hóa, bao gồm điện ảnh và âm nhạc, tăng trung bình 12%/năm giai đoạn 2020-2025. Việt Nam có 16 di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại được UNESCO ghi danh, cho thấy khả năng bảo tồn và quảng bá văn hóa của Việt Nam vượt khỏi biên giới quốc gia. Điện ảnh, âm nhạc, du lịch văn hóa, các di sản văn hóa phi vật thể được bảo tồn và quảng bá trên nhiều kênh khác nhau đã góp phần nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà đã trở thành một thành tố chiến lược, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng GDP và xuất khẩu dịch vụ. Sức mạnh mềm quốc gia được xây dựng trên sự kết nối giữa bản sắc dân tộc và công nghệ toàn cầu, tạo vị thế vững chắc cho Việt Nam trong mạng lưới các quốc gia có ảnh hưởng văn hóa khu vực.

Từ thế bị bao vây, cô lập đến bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Năm 1945, lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đều còn hết sức non trẻ, thiếu vũ khí, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, chưa hoàn chỉnh về mặt tổ chức, phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về lực lượng và cơ sở vật chất.

Sau tám thập niên, đến nay, quốc phòng, an ninh Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, bao gồm cả trên biển, trên không, trên không gian mạng; giữ thế tích cực, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; kết hợp chặt chẽ xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng để bảo vệ; tích cực, chủ động xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về mọi mặt ngay từ trong thời bình để tạo sức mạnh răn đe, ngăn chặn mọi ý đồ, hành động xâm lược và âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.

Về ngoại giao, trong giai đoạn đầu sau khi thành lập nước, Việt Nam chưa được quốc tế chính thức công nhận rộng rãi và phải đối mặt với sự bao vây, cô lập chính trị trong suốt thời kỳ chiến tranh.

Sau 80 năm, ngoại giao Việt Nam đã khẳng định vai trò tiên phong trong bảo vệ hòa bình, thúc đẩy hợp tác và nâng cao vị thế quốc gia.

Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó có 37 quốc gia là đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện; là thành viên của hơn 70 tổ chức quốc tế. Việt Nam đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, ngày càng khẳng định vị thế là một quốc gia có trách nhiệm toàn cầu. Việt Nam tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, gìn giữ hòa bình, hợp tác phát triển, an ninh khu vực.

Năng lực ngoại giao của Việt Nam thể hiện rõ qua vai trò trung gian trong một số đối thoại liên quan đến an ninh biển, xung đột thương mại và chống khủng bố xuyên quốc gia, đóng góp tiếng nói chính sách có trọng lượng trong các thể chế toàn cầu; khẳng định hình ảnh của Việt Nam là một quốc gia độc lập, kiên định về nguyên tắc, nhưng mềm dẻo về chiến lược, đạt được sự cân bằng giữa bảo vệ chủ quyền và hội nhập quốc tế.

Sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn 1945-2025 là một tiến trình đặc biệt - không tuyến tính, không dựa vào mô hình sao chép, mà phản ánh một quá trình liên tục tích hợp giữa lịch sử và đổi mới, phát triển, giữa bản sắc và hiện đại hóa. Đến nay, Việt Nam có kinh tế tăng trưởng vượt bậc, mức sống của nhân dân được nâng cao, tỷ lệ nghèo đa chiều giảm mạnh; các hệ thống xã hội như giáo dục, y tế, an sinh được phổ cập và hiện đại hóa đồng bộ theo hướng ngày càng hiện đại và nhân văn.

Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc duy trì ổn định chính trị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống người dân và vị thế trên trường quốc tế, định hình bản sắc phát triển riêng của mình; đó chính là thành tựu sâu sắc nhất của hành trình “từ kỷ nguyên độc lập đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”./.

Tác giả: Phó Giáo sư-Tiến sỹ Vũ Trọng Lâm
(Giám đốc-Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật)

Lễ thượng cờ ASEAN tại trụ sở Bộ Ngoại giao Việt Nam.
Lễ thượng cờ ASEAN tại trụ sở Bộ Ngoại giao Việt Nam.
vietnamplus.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai tham gia góp ý nhiều nội dung quan trọng trong các dự thảo nghị quyết

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai tham gia góp ý nhiều nội dung quan trọng trong các dự thảo nghị quyết

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 07/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Nghị quyết quy định cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.

Tỉnh ủy Lào Cai kiểm tra công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tại xã Bảo Thắng

Tỉnh ủy Lào Cai kiểm tra công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tại xã Bảo Thắng

Chiều 06/8, đoàn kiểm tra của Tỉnh ủy do đồng chí Phan Đăng Toàn - Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Ban Thường vụ Đảng ủy xã Bảo Thắng về công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các quy định của Trung ương và của tỉnh về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.

Đoàn công tác Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy khảo sát các mô hình “Dân vận khéo” tại xã Gia Phú

Đoàn công tác Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy khảo sát các mô hình “Dân vận khéo” tại xã Gia Phú

Sáng 07/8, đoàn công tác của Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Lào Cai do đồng chí Đoàn Thị Thanh Tâm - Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy làm trưởng đoàn, đã khảo sát, kiểm tra thực tế việc triển khai phong trào thi đua “Dân vận khéo” tại xã Gia Phú.

Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Tỉnh ủy làm việc với Đảng ủy xã Khánh Hòa về nhiệm vụ những tháng cuối năm

Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Tỉnh ủy làm việc với Đảng ủy xã Khánh Hòa về nhiệm vụ những tháng cuối năm

Sáng 07/8, đồng chí Đỗ Quang Minh - Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Tỉnh ủy có buổi làm việc với Đảng ủy xã Khánh Hòa về công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện một số nhiệm vụ chính trị những tháng cuối năm 2026.

Bí thư Tỉnh ủy Dương Quốc Huy tiếp Đoàn công tác Đại sứ quán Israel tại Việt Nam

Bí thư Tỉnh ủy Dương Quốc Huy tiếp Đoàn công tác Đại sứ quán Israel tại Việt Nam

Sáng 07/8, đồng chí Dương Quốc Huy - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai đã tiếp và làm việc với Ngài Yaron Mayer - Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhà nước Israel tại Việt Nam nhân dịp Ngài Đại sứ chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam.

Thông báo Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp BCĐ Trung ương thực hiện Nghị quyết 57

Thông báo Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp BCĐ Trung ương thực hiện Nghị quyết 57

Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị (Thông báo số 134-TB/VPTW ngày 02/8/2026).

Quốc hội thảo luận dự án Luật Phát triển đô thị và các dự thảo nghị quyết quan trọng

Quốc hội thảo luận dự án Luật Phát triển đô thị và các dự thảo nghị quyết quan trọng

Hôm nay (7/8), Quốc hội bước sang ngày làm việc thứ 5 của Kỳ họp không thường lệ thứ nhất với nhiều nội dung quan trọng được các đại biểu xem xét, cho ý kiến, trong đó có dự án Luật Phát triển đô thị và 2 dự thảo nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù trong một số lĩnh vực.

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai góp ý nhiều nội dung quan trọng tại phiên thảo luận tổ

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai góp ý nhiều nội dung quan trọng tại phiên thảo luận tổ

Chiều 06/8, tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai tham gia thảo luận tại Tổ 4 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.

Quyết định kịp thời tiếp thêm niềm tin cho người dân vùng thiên tai

Quyết định kịp thời tiếp thêm niềm tin cho người dân vùng thiên tai

Việc UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 2717/QĐ-UBND ngày 05/8/2026 về hỗ trợ khẩn cấp cho người dân phải sơ tán, di dời khỏi vùng thiên tai không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ về vật chất, mà quan trọng hơn là củng cố niềm tin giúp bà con an tâm, chủ động chấp hành lệnh di dời mỗi khi thiên tai rình rập.

Hạ tầng phải đảm nhận một sứ mệnh lớn hơn trong chặng đường phát triển mới

Hạ tầng phải đảm nhận một sứ mệnh lớn hơn trong chặng đường phát triển mới

Sáng 6/8, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Kết luận số 72-KL/TW, ngày 23/02/2024 của Bộ Chính trị khóa XIII.

Lào Cai phân công lãnh đạo cấp tỉnh phụ trách phòng, chống thiên tai, kiện toàn Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự

Lào Cai phân công lãnh đạo cấp tỉnh phụ trách phòng, chống thiên tai, kiện toàn Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự

Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai yêu cầu phân công rõ người, rõ việc, rõ địa bàn, rõ trách nhiệm trong công tác phòng, chống thiên tai; đồng thời UBND tỉnh đã kiện toàn Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh với đầy đủ các lực lượng quân sự, công an, y tế, nông nghiệp, xây dựng, giáo dục, thông tin và các địa phương.

5 trụ cột kiến tạo mô hình xã, phường Xã hội chủ nghĩa ở Lào Cai

5 trụ cột kiến tạo mô hình xã, phường Xã hội chủ nghĩa ở Lào Cai

Lào Cai đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa với tư duy phát triển mới. Cùng với tập trung vào tăng trưởng kinh tế, hoàn thiện hạ tầng, mô hình hướng tới xây dựng cộng đồng phát triển toàn diện, hài hòa và hạnh phúc trên nền tảng 5 trụ cột phát triển.

Lào Cai tham dự hội nghị toàn quốc góp ý sửa đổi Quy định về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân

Lào Cai tham dự hội nghị toàn quốc góp ý sửa đổi Quy định về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân

Sáng 06/8, Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến toàn quốc lấy ý kiến tham mưu sửa đổi, bổ sung Quy định số 366-QĐ/TW, ngày 30/8/2025 của Bộ Chính trị về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị. Các đồng chí Bùi Thị Quỳnh Vân và Hà Minh Hải, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương đồng chủ trì hội nghị.

fb yt zl tw