Từ năm 2025: "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất" được đổi tên

Theo Luật Đất đai 2024 có hiệu lực từ 1/1/2025, tên “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” sẽ được rút ngắn thành “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất”.

Tên gọi chính xác theo Luật Đất đai 2024

Cụ thể, Luật Đất đai 2024 đã điều chỉnh tên gọi của “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” thành “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất”.

Tại khoản 21 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 định nghĩa: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Tài sản gắn liền với đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

Giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của các luật có liên quan được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai 2024 có giá trị pháp lý tương đương như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại Luật Đất đai 2024.

Luật Đất đai 2024 quy định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng gắn liền với đất theo mẫu thống nhất trong cả nước.

Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất

Theo Điều 135 Luật Đất đai 2024 thì nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp theo từng thửa đất cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất có nhu cầu và đủ điều kiện theo quy định của Luật Đất đai 2024. Trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng 1 xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì được cấp 1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất chung cho các thửa đất đó.

Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung tài sản gắn liền với đất thì cấp cho mỗi người 1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; trường hợp những người có chung quyền sử dụng đất, chung quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất có yêu cầu thì cấp chung 1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và trao cho người đại diện.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất chỉ được cấp sau khi người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không thuộc đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được miễn, được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp sau khi cơ quan có thẩm quyền xác định không phải thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được miễn, được ghi nợ nghĩa vụ tài chính; trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp sau khi cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định cho thuê đất, ký hợp đồng thuê đất…

Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai 2024 hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế.

Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp mà vị trí không chính xác thì rà soát, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người sử dụng đất.

Chính phủ quy định chi tiết việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, việc xác định lại diện tích đất ở và việc đính chính, thu hồi, hủy giấy chứng nhận đã cấp.

Báo Pháp luật

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Tuổi nghỉ hưu năm 2026 là bao nhiêu?

Tuổi nghỉ hưu năm 2026 là bao nhiêu?

Năm 2026, độ tuổi nghỉ hưu của lao động nam là 61 tuổi 6 tháng, lao động nữ là 57 tuổi; năm 2027, độ tuổi nghỉ hưu của lao động nam là 61 tuổi 9 tháng, lao động nữ là 57 tuổi 4 tháng.

Bộ Nội vụ hướng dẫn xếp lương đối với người được tuyển dụng vào công chức

Bộ Nội vụ hướng dẫn xếp lương đối với người được tuyển dụng vào công chức

Bộ Nội vụ vừa có hướng dẫn xếp lương đối với người được tuyển dụng vào công chức đã có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại Điều 20 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP (quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức), thực hiện từ ngày 1/3/2026 tới.

Thành lập Trung tâm Thông tin và Hội nghị tỉnh Lào Cai (thuộc Văn phòng UBND tỉnh Lào Cai)

Thành lập Trung tâm Thông tin và Hội nghị tỉnh Lào Cai (thuộc Văn phòng UBND tỉnh Lào Cai)

Ngày 25/12/2025, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2556/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án và thành lập Trung tâm Thông tin và Hội nghị tỉnh Lào Cai (thuộc Văn phòng UBND tỉnh Lào Cai) trên cơ sở hợp nhất Cổng Thông tin điện tử, Nhà khách Hào Gia và Trung tâm Hội nghị từ ngày 01/01/2026.

Mô hình “Không gian đọc cộng đồng”: Hiệu quả từ cách làm của phụ nữ phường Cam Đường

Mô hình “Không gian đọc cộng đồng”: Hiệu quả từ cách làm của phụ nữ phường Cam Đường

Mỗi buổi chiều, khi nắng tắt sau dãy nhà khu dân cư Tùng Tung 3, phường Cam Đường, một không gian nhỏ trở nên sinh động với tiếng trẻ con cười nói, tiếng lật trang sách và những câu chuyện đời thường chia sẻ bên ghế đá, bồn hoa. Đây chính là “Không gian đọc cộng đồng” - mô hình do phụ nữ địa phương khởi xướng và duy trì bền bỉ trong nhiều tháng qua.

Zalo đổi điều khoản mới: Người dùng bị đẩy vào thế chấp thuận hoặc ngừng sử dụng

Zalo đổi điều khoản mới: Người dùng bị đẩy vào thế chấp thuận hoặc ngừng sử dụng

Zalo bất ngờ đưa ra nhiều điều khoản dịch vụ mới đang gây nhiều tranh cãi. Người dùng phản ánh bị đặt vào thế bị động không có lựa chọn, buộc phải đồng ý với các quy định liên quan đến thu thập, xử lý và chia sẻ dữ liệu cá nhân, dù còn nhiều lo ngại về quyền riêng tư và an toàn thông tin.

fb yt zl tw