Tìm giải pháp đưa miền Bắc thành vùng nguyên liệu khoai tây chủ lực

Ước tính nhu cầu khoai tây cho các nhà máy chế biến cần 180.000 tấn/năm nhưng sản lượng trong nước mới đáp ứng được 30 - 40%, dư địa để miền Bắc trở thành vùng nguyên liệu khoai tây chủ lực là rất lớn.

Nông dân xã Đào Viên, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thu hoạch khoai tây.
Nông dân xã Đào Viên, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thu hoạch khoai tây.

Ngày 25/10, tại Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng công nghệ canh tác khoai tây các tỉnh phía Bắc, hơn 100 đại biểu là các nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và đại diện các hợp tác xã và nông dân trồng khoai tây đã chia sẻ, trao đổi các giải pháp, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến vào canh tác khoai tây, tìm giải pháp đưa miền Bắc trở thành vùng nguyên liệu khoai tây chủ lực của cả nước.

Hội thảo do Nhóm công tác PPP (đối tác công - tư) về rau quả, trong khuôn khổ Đối tác Phát triển nông nghiệp bền vững (PSAV) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tại thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Theo đánh giá, dư địa của cây khoai tây miền Bắc trở thành vùng nguyên liệu chủ lực còn lớn. Tiến sỹ Đoàn Xuân Cảnh, Phó Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết hiện nay, diện tích khoai tây các tỉnh phía Bắc duy trì từ 19.000 - 20.000ha. Nhu cầu khoai tây cho thị trường trong nước rất lớn, sản lượng hàng năm không đủ phục vụ ăn tươi và chế biến.

Sản lượng khoai tây hàng năm không đủ phục vụ ăn tươi và chế biến.
Sản lượng khoai tây hàng năm không đủ phục vụ ăn tươi và chế biến.

Theo ước tính, nhu cầu khoai tây cho các nhà máy chế biến cần 180.000 tấn/năm nhưng sản lượng trong nước mới đáp ứng được 30 - 40%, còn lại phải nhập khẩu. Khó khăn đối với ngành hàng sản xuất khoai tây hiện nay là thiếu nguồn giống chất lượng, áp lực sâu bệnh, đầu ra bấp bênh.

Hiện tại, trong nước chỉ cung cấp được 60 - 65% giống khoai tây, còn lại phải nhập khẩu. Diện tích thu hẹp, sản lượng giảm khiến ngành hàng khoai tây bỏ lỡ cơ hội lớn dù còn dư địa tăng trưởng.

Để phát triển ngành hàng, theo Tiến sỹ Đoàn Xuân Cảnh, cần chính sách hỗ trợ, đầu tư cho khoa học và công nghệ, cơ chế vốn cho nông dân về cơ giới hóa trong sản xuất và cơ chế đầu tư cho doanh nghiệp.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Dương Phạm Thị Đào cho biết khoai tây trước kia là 1 cây trồng chính vụ Đông của Hải Dương. Tuy nhiên, những năm gần đây do chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, mặt khác, trồng khoai tây đòi hỏi nhiều công chăm sóc, thu hoạch, giá giống cao, tiêu thụ không ổn định nên diện tích trồng khoai tây tại Hải Dương có xu hướng giảm.

Diện tích khoai tây của tỉnh khoảng trên 700 ha/năm trồng tập trung ở Tứ Kỳ, Thanh Miện, Kim Thành... năng suất bình quân 144,61 tạ/ha, sản lượng 10.788 tấn.

Theo bà Phạm Thị Đào, cần những giải pháp đồng bộ về giống, công nghệ sản xuất, chế biến, liên kết sản xuất theo chuỗi giúp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Một trong những giải pháp phát triển bền vững cho cây khoai tây là gắn vùng nguyên liệu với chế biến, tiêu thụ.

Những năm qua, mô hình sản xuất khoai tây theo chuỗi giá trị cho thấy hiệu quả tại một số tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Đăk Lăk và Lâm Đồng).

Mô hình do Công ty PepsiCo Việt Nam triển khai với diện tích tăng dần từ 27ha năm 2008 đến 1.700ha vào năm 2024. Thu nhập của các nông hộ được cải thiện. Số hộ nông dân tham gia mô hình tăng 20% mỗi năm.

Năm 2023, năng suất 30-34 tấn/ha. Đây cũng là năm đầu tiên PepsiCo xuất khẩu 6.000 tấn khoai tây.

Dư địa để miền Bắc trở thành vùng nguyên liệu khoai tây chủ lực rất lớn.
Dư địa để miền Bắc trở thành vùng nguyên liệu khoai tây chủ lực rất lớn.

Mô hình canh tác khoai tây theo chuỗi giá trị với sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân là mô hình khép kín các khâu chăm sóc đất - giống - xử lý hạt giống - phân bón-thuốc bảo vệ thực vật - kỹ thuật canh tác- bao tiêu đầu ra và chế biến sản phẩm sử dụng năng lượng tái tạo. Trong canh tác, áp dụng công nghệ hệ thống tưới thông minh tiết kiệm nguồn nước.

Đại diện PepsiCo cho biết mô hình liên kết đã sản lượng khoai tây năm 2023 đạt khoảng 33.000 tấn và doanh nghiệp phấn đấu 237.000 tấn vào năm 2038 và sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu.

Theo kế hoạch, năm 2024, doanh nghiệp sẽ mở rộng diện tích liên kết này ra các tỉnh phía Bắc với 321ha, năng suất phấn đấu 4.600 tấn, tập trung ở một số tỉnh gồm Thanh Hóa, Bắc Giang, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương… chuẩn bị vùng nguyên liệu cho nhà máy chế biến dự kiến đi vào hoạt động từ cuối năm 2025.

Doanh nghiệp bày tỏ cần sự đồng hành từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với cơ chế trong đó quy hoạch để mở rộng vùng nguyên liệu, Sở Nông nghiệp các tỉnh hỗ trợ triển khai mô hình liên kết, sự hỗ trợ từ Trung tâm Khuyến nông quốc gia.

Cũng tại hội thảo, nông dân tham gia chuỗi liên kết ở Tây Nguyên và Hải Dương chia sẻ, khi tham gia mô hình, với sát cánh của doanh nghiệp trong sản xuất và cam kết đầu ra, năng suất sản phẩm tăng và tạo thu nhập ổn định.

Nông dân xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cho hay, qua tham gia trồng thử nghiệm và với sự đồng hành của doanh nghiệp, năng suất khoai tây theo mô hình đạt 1 tấn/sào (360m2/sào). Năm 2024, công ty tiếp tục duy trì và cam kết mua 9.000 đồng/ha.

Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Lê Quốc Thanh cho biết dư địa cho cây khoai tây rất lớn, đặc biệt trong thời đại của nông nghiệp đa giá trị. Tuy nhiên, để phát triển vùng nguyên liệu, khắc phục những khó khăn về giống, áp lực sâu bệnh, tổ chức sản xuất, ông Thanh đề nghị doanh nghiệp cần có kế hoạch hợp tác để chọn lựa những giống sạch bệnh; hệ thống lại quy trình canh tác khoai tây đối với các tỉnh phía Bắc; quan tâm đến tổ chức sản xuất, hỗ trợ vốn, khắc phục thiếu lao động, áp dụng cơ giới hóa, liên kết rất chặt chẽ với nông hộ.

Trung tâm Khuyến nông quốc gia sẽ ký kết chương trình tổng thể với doanh nghiệp, vào cuộc cùng doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu.

Cùng với việc xây dựng chương trình hành động, phát huy vai trò đội ngũ khuyến nông cơ sở, Trung tâm sẽ xây dựng bộ quy trình canh tác khoai tây ở các tỉnh phía Bắc để phổ biến, tăng cường năng lực, cho đội ngũ khuyến nông cơ sở để đồng hành cùng nông dân, hợp tác xã.

Theo vietnamplus.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

"Đánh thức" tiềm năng kinh tế dưới tán rừng

"Đánh thức" tiềm năng kinh tế dưới tán rừng

Lào Cai có lợi thế lớn về tài nguyên rừng, đa dạng sinh học cùng nhiều sản vật bản địa như mật ong, trà khôi nhung, cây dược liệu, quế, măng, sơn tra... Thông qua chương trình OCOP, các sản phẩm gắn với rừng đang từng bước được chuẩn hóa chất lượng, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường, góp phần tạo sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân vùng cao.

Xóa đường đất quyết tâm từ Kế hoạch 213

Xóa đường đất quyết tâm từ Kế hoạch 213

Bằng việc tập trung phân bổ gần 9.000 tỷ đồng vốn ngân sách và áp dụng nhất quán cơ chế “Nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ”, tỉnh Lào Cai đặt mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030 có trên 80% hệ thống đường giao thông tại các xã được nhựa hóa, bê tông hóa,  tạo đòn bẩy giúp đồng bào vùng cao thay đổi phương thức sản xuất, chuyển dịch từ tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa và ổn định cuộc sống ngay tại quê hương.

Nông dân Lào Cai gửi gắm khát vọng phát triển vào Đại hội IX Hội Nông dân Việt Nam

Nông dân Lào Cai gửi gắm khát vọng phát triển vào Đại hội IX Hội Nông dân Việt Nam

Từ những trang trại doanh thu hàng tỷ đồng đến các hợp tác xã mạnh dạn chuyển đổi số, cán bộ, hội viên nông dân Lào Cai đang lập nhiều thành tích thiết thực hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX, đồng thời gửi gắm nhiều kỳ vọng vào những chủ trương mới cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

Giữ hành lang thoát lũ: Không để vi phạm nhỏ thành rủi ro lớn

Giữ hành lang thoát lũ: Không để vi phạm nhỏ thành rủi ro lớn

Mỗi mùa mưa lũ đến, những tuyến đê ven suối, ven sông lại trở thành “lá chắn” bảo vệ tính mạng, tài sản và sinh kế của người dân. Nhưng chỉ một đống vật liệu xây dựng tập kết sai chỗ, một điểm khai thác cát sỏi trái phép hay một công trình lấn chiếm hành lang thoát lũ cũng có thể tạo thành mắt xích nguy hiểm, làm gia tăng rủi ro thiên tai.

Nuôi ốc trên đồng lúa - mô hình “2 trong 1” của nông dân Phong Dụ Thượng

Nuôi ốc trên đồng lúa - mô hình “2 trong 1” của nông dân Phong Dụ Thượng

Tận dụng diện tích mặt nước trên ruộng để nuôi ốc dạ kết hợp trồng lúa đang mang lại hiệu quả kinh tế cho nhiều hộ dân ở xã Phong Dụ Thượng. Mô hình “2 trong 1” này không chỉ giúp nâng cao giá trị sản xuất trên cùng diện tích canh tác mà còn góp phần giảm chi phí, tạo thêm sinh kế cho người dân.

Nuôi cá nước lạnh trước áp lực nắng nóng

Nuôi cá nước lạnh trước áp lực nắng nóng

Nắng nóng kéo dài cùng những đợt mưa lớn cục bộ đang tạo ra không ít thách thức đối với nghề nuôi cá nước lạnh tại Lào Cai. Trước diễn biến thời tiết cực đoan, các cơ sở nuôi phải tăng cường theo dõi môi trường nước, chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo vệ đàn cá và duy trì sản xuất.

Lào Cai tăng cường phối hợp ngăn chặn dịch bệnh truyền lây xuyên biên giới trên vật nuôi

Lào Cai tăng cường phối hợp ngăn chặn dịch bệnh truyền lây xuyên biên giới trên vật nuôi

Sáng 05/6, tại phường Lào Cai, Chi cục Trồng trọt, Bảo vệ thực vật và Chăn nuôi, Thú y, Thủy sản tỉnh Lào Cai phối hợp với Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI) và Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam tổ chức Hội nghị truyền thông về các biện pháp phòng, chống bệnh truyền lây xuyên biên giới trên vật nuôi; ngăn chặn vi rút gây bệnh lở mồm long móng (LMLM) serotype SAT1 xâm nhập vào địa bàn tỉnh.

Thay đổi cách nghĩ để giữ rừng, giữ nước

Thay đổi cách nghĩ để giữ rừng, giữ nước

Nhiều năm nay, tình trạng thiếu nước sinh hoạt thường xuyên tái diễn tại các xã vùng cao, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân cũng như hoạt động của trường học, cơ sở y tế. Khi các khe suối dần cạn dòng, nguồn nước tự nhiên ngày càng suy giảm do biến đổi khí hậu và hiện tượng sa mạc hóa, bảo vệ rừng không còn chỉ là nhiệm vụ giữ gìn tài nguyên mà đã trở thành giải pháp bền vững để bảo đảm nguồn nước.

Vì một Lào Cai xanh

Vì một Lào Cai xanh

Biến đổi khí hậu đang làm thay đổi sâu sắc điều kiện tự nhiên, môi trường sống và quỹ đạo phát triển của nhiều địa phương, trong đó có tỉnh Lào Cai. Trước hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng, bảo vệ môi trường không còn là nhiệm vụ riêng của ngành chức năng mà trở thành yêu cầu cấp thiết đối với toàn xã hội.

Những “bông hoa” nơi lưng trời

Những “bông hoa” nơi lưng trời

Dẫu điều kiện công tác ở vùng cao Chế Tạo, Mù Cang Chải, Lao Chải còn nhiều gian khó, nhưng những cán bộ hội phụ nữ cơ sở vẫn bền bỉ bám bản, vận động hội viên, người dân mạnh dạn phát triển kinh tế. Bằng sự tận tâm, các chị đã trở thành cầu nối tin cậy giữa cấp ủy, chính quyền với Nhân dân, góp sức dựng xây quê hương ngày càng phát triển.

Mường Bo: "Thay áo mới" sau một năm tinh gọn bộ máy

Mường Bo: "Thay áo mới" sau một năm tinh gọn bộ máy

Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp sau gần một năm vận hành đã mang lại "chiếc áo mới" đầy khởi sắc cho xã Mường Bo. Bước ngoặt này đến từ tư duy quản trị hiện đại, quyết liệt trong tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả cải cách. 

Từ người đi tìm đất sống đến những tỷ phú quế ở Mỏ Vàng

Từ người đi tìm đất sống đến những tỷ phú quế ở Mỏ Vàng

Dưới những đồi quế xanh ngút ngàn ở thôn Trung Tâm, xã Mỏ Vàng, tỉnh Lào Cai, cụm dân cư người Mông với chỉ 40 hộ dân khiến nhiều người bất ngờ bởi diện mạo sung túc hiếm thấy. Từ hai bàn tay trắng, người Mông nơi đây đã tạo dựng cơ nghiệp trên vùng đất từng đầy gian khó, biến những đồi núi hoang sơ thành những cơ ngơi bạc tỷ giữa đại ngàn.

Niềm vui mùa gặt

Niềm vui mùa gặt

Mùa gặt ở các vùng quê luôn đến bằng những thanh âm rất riêng. Đó là tiếng máy gặt rộn vang từ tinh mơ, tiếng gọi nhau í ới giữa đồng, tiếng cười giòn tan của bà con sau một vụ mùa bội thu.

Thanh long ruột đỏ ở xã Quy Mông

Thanh long ruột đỏ ở xã Quy Mông

Trên những triền đồi thoai thoải của xã Quy Mông, những vườn thanh long ruột đỏ xanh tốt đang từng ngày khẳng định vị thế là cây trồng chủ lực, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. 

Sạt lở bờ sông đe dọa cuộc sống người dân Bản Cuông 2, xã Xuân Hòa

Sạt lở bờ sông đe dọa cuộc sống người dân Bản Cuông 2, xã Xuân Hòa

Mỗi mùa mưa đến, nhiều hộ dân ở bản Cuông 2, xã Xuân Hòa lại sống trong cảnh phập phồng. Dòng sông Chảy đổi dòng, khoét sâu vào bờ, kéo theo đất đai, ruộng vườn, đường dân sinh trôi xuống lòng sông. Những vết nứt ngày một dài thêm, taluy dựng đứng như chỉ chực đổ ập xuống khu dân cư bất cứ lúc nào.

fb yt zl tw