LCĐT - Đã rất lâu rồi, tôi không được thấy những tấm nệm rơm. Tôi cứ nghĩ rằng, cuộc sống đã thay đổi rất nhiều, đủ để gia đình nào cũng có những tấm đệm, không bằng cao su thì cũng bằng xốp, bằng bông để đi qua những ngày giá rét. Thế mà không phải.
Trong một chuyến công tác vùng cao, tôi tình cờ ghé qua nhà của một phụ nữ luống tuổi tên Mẩy. Căn nhà nằm chơ vơ trên sườn núi, xung quanh chỉ xơ xác những cây trẩu mùa rụng quả. Căn nhà nghèo tới nỗi bốn bức tường được làm bằng bốn loại vật liệu, một bức bằng những ván gỗ, một bức tường đất, một góc quây bạt, một góc nhỏ được coi là kiên cố nhất thì xây bằng gạch và xi măng - những vật liệu thừa mà bà Mẩy đi xin được từ các công trình gần đó. Trong đìu hiu gió lạnh, bà Mẩy đốt bếp lửa bập bùng để sưởi ấm. Cả căn nhà cũ kỹ, thứ mới nhất là hai chiếc chăn bông được các đoàn thiện nguyện đem tặng từ mùa đông năm trước. Con trai bà nghiện ngập, bỏ nhà đi cả năm chẳng ghé lại nổi đôi lần thăm con, con dâu không chịu được nên bỏ đi, để lại cho bà Mẩy một mình nuôi hai đứa cháu nhỏ. Tuổi cao, sức yếu, bà Mẩy không kiếm được tiền để mua quần áo ấm cho hai đứa cháu, chứ chưa nói tới mua nệm. Những chiếc chăn bông của các đoàn từ thiện trước đó đem tặng là không đủ để chống lại cái rét vùng cao, nên chiếc giường vẫn được người phụ nữ cần mẫn lót rơm làm nệm để hai đứa cháu ngủ ngoan suốt những đêm dài. Trong căn nhà tối tăm ấy, chiếc nệm rơm là hiện thân rõ nét nhất của sự nghèo khổ mà người đàn bà đang nỗ lực chống chọi với cái rét.
Lần cuối cùng tôi nhìn thấy nệm rơm cách đây cũng lâu lắm rồi, khoảng 20 - 25 năm trước. Tôi vẫn nhớ rõ tiếng lạo xạo của rơm được trải dưới tấm chiếu, nhớ mùi rơm nếp thơm. Ngày ấy, mỗi gia đình đều trữ vài bó rơm khô ở trên gác, một phần để làm thức ăn cho trâu, một phần để lót ổ gà, một phần để đông đến làm nệm. Rơm để làm nệm thường là rơm của lúa nếp, loại lúa có thân cao ngang mặt người lớn. Sợi rơm nếp dài, ít dằm, ít lá hơn so với rơm của lúa tẻ, làm nệm sẽ êm và ít bị rặm. Rơm được phơi khô, đem buộc thành từng bó nhỏ thật đều, rồi mới xếp lên nan giường, sau đó trải chiếu lên trên. Cứ độ 1 - 2 tuần, khi rơm phía dưới đã xẹp hết, không còn êm nữa, lớp cũ được bỏ ra thay bằng lớp mới, êm hơn, ấm áp hơn và đặc biệt là luôn miễn phí. Những chiếc nệm rơm đã đồng hành với không biết bao thế hệ, đi qua không biết bao ngày đói nghèo, cùng người dân vượt qua những ngày đông tháng giá.
Sau này, khi chúng tôi lớn hơn một chút, cuộc sống gia đình cũng khá dần lên. Những chiếc nệm rơm dần được thay bằng những tấm chăn bông cũ, những tấm nệm bông, rồi nệm xốp, nệm cao su… Những chiếc nệm rơm cũng cứ thế thành dĩ vãng, hiếm gặp tới nỗi tôi đã nghĩ rằng, không còn gia đình nào nghèo tới mức phải nằm nệm rơm nữa. Những phiên chợ vùng cao, những tấm nệm đủ loại chất liệu, đủ kích thước, đủ giá thành được bày bán, cứ sang đông, người dân vùng cao dù nghèo tới đâu cũng có thể bán đi 1 - 2 con gà để mua. Thế nhưng, ở đâu đó, trong những căn nhà còn xác xơ nghèo, chiếc nệm rơm vẫn là nơi ấm áp duy nhất để dựa vào. Mỗi mùa đông đến, khi gió bấc rít từng cơn ở ngoài trời, mưa rây rây như bụi trắng, tôi chỉ mong ngôi nhà nào cũng có đủ nệm ấm để nằm, thay cho những chiếc nệm rơm.