Trước đây, ở thôn Nậm Mười, chuyện đưa nông sản ra khỏi địa bàn là nỗi vất vả của người dân. Đường đi lầy lội mỗi khi mưa xuống, phương tiện vận chuyển khó tiếp cận, nông sản làm ra nhiều nhưng đầu ra không dễ tìm.
Ông Bàn Thừa Hưng, thôn Nậm Mười nhớ lại: “Trước đây chưa có đường bê tông thì đi lại khó khăn, nuôi được con gà, con lợn cũng khó bán. Bây giờ có đường bê tông, nuôi được thì bán ngay tại nhà, không phải vất vả mang đi như trước”.
Sự thay đổi trong câu chuyện của ông Hưng phản ánh khá rõ giá trị của hạ tầng giao thông đối với kinh tế nông thôn. Con đường không trực tiếp làm ra sản phẩm, nhưng quyết định đáng kể đến khả năng lưu thông hàng hóa, chi phí vận chuyển và cơ hội tiếp cận thị trường của người sản xuất.
Trưởng thôn Nậm Mười, ông Bàn Tòn Chày cho biết, sau khi được Nhà nước đầu tư đường giao thông, nhiều gia đình đã chủ động mua bán nông sản, đưa sản phẩm ra các khu chợ. Đời sống của người dân từng bước thay đổi, nhiều hộ có điều kiện mua sắm phương tiện, thiết bị phục vụ sinh hoạt và sản xuất.
Sau khi sáp nhập, thôn Nậm Mười có 192 hộ; theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn mới, có 100 hộ nghèo và 10 hộ cận nghèo. Chi bộ, ban quản lý thôn đang vận động người dân tham gia các dự án giảm nghèo, tiếp cận nguồn hỗ trợ nông cụ, bò cái sinh sản, ngựa để tạo sinh kế. Cùng với những tuyến đường bê tông mới thuận lợi cho giao thương, mục tiêu giảm 20 hộ nghèo năm 2026 của thôn đã được nhận diện.
Nếu ở Nậm Mười, đường bê tông đã tạo chuyển biến rõ nét, thì tại Giàng Pằng, hành trình đi lại và vận chuyển nông sản vẫn còn nhiều khó khăn.
Thôn có 78 hộ với 410 nhân khẩu, trong đó 46 hộ nghèo và 24 hộ cận nghèo. Kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, với cây chè Shan tuyết có diện tích hơn 100 ha, sản lượng khoảng 60 tấn mỗi năm; măng sặt khoảng 8 ha, sản lượng 50 tấn mỗi năm. Bên cạnh đó, người dân đang mở rộng diện tích trồng quế, coi đây là hướng phát triển kinh tế lâu dài.
Đó là những sản phẩm có giá trị, nhưng con đường đưa sản phẩm ra thị trường lại chưa thông suốt. Từ năm 2025, Nhà nước hỗ trợ bê tông hóa tuyến đường từ thôn Nậm Mười lên Giàng Pằng. Tuy nhiên, sau đoạn đã được đầu tư vẫn còn gần 3 km đường đất.
Anh Vàng A Giấu, Trưởng thôn Giàng Pằng cho biết: “Đoạn còn lại vẫn là đường đất, đi lại rất khó khăn, nhất là mùa mưa. Bà con đi làm, đưa con đến trường đã vất vả, việc vận chuyển măng sặt, chè ra bên ngoài để tiêu thụ cũng gặp nhiều trở ngại. Mong muốn của người dân là các cấp, các ngành tiếp tục quan tâm, hỗ trợ đầu tư làm đường”.
Ông Triệu Tài Sìu - Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Sơn Lương cho biết, giao thông trên địa bàn cơ bản đã được đầu tư, song một số tuyến vẫn chưa hoàn thiện. Theo ông Sìu, khi đường được bê tông hóa, việc giao thương các sản phẩm như chè, măng sặt thuận lợi hơn, đồng thời các thôn bản cũng có thêm điều kiện để đón khách du lịch, khai thác tiềm năng sẵn có. Vì vậy, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đang phối hợp tuyên truyền, vận động người dân hiến đất, tạo mặt bằng để mở rộng đường.
Đầu tư hạ tầng ở Sơn Lương không chỉ là câu chuyện nguồn vốn Nhà nước, mà còn là quá trình huy động sự đồng thuận và đóng góp của cộng đồng. Đằng sau mỗi mét đường được mở rộng là những diện tích đất sản xuất, cây trồng và tài sản người dân tự nguyện nhường lại vì lợi ích chung.
Theo kết quả thực hiện đến tháng 10/2026, xã đã triển khai làm 8,947 km đường giao thông nông thôn, vượt 1,747 km so với kế hoạch 7,2 km, đạt 124,26%. Đáng chú ý, người dân đã tự nguyện hiến hơn 25.000 m² đất, tương đương 2,5 ha để thực hiện các công trình. Trên diện tích hiến đất có hơn 7.000 cây quế, khoảng 2.000 cây xoan, bồ đề, trẩu, hơn 1.000 m² măng sặt cùng một số loại cây dược liệu khác.
Việc người dân tự nguyện bàn giao mặt bằng giúp giảm áp lực giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thi công. Quan trọng hơn, sự đóng góp ấy thể hiện nhận thức ngày càng rõ về lợi ích lâu dài của hạ tầng đối với chính cuộc sống mỗi gia đình.
Tuy nhiên, địa hình miền núi chia cắt, độ dốc lớn, dân cư phân tán khiến chi phí đầu tư giao thông ở Sơn Lương cao hơn nhiều địa bàn thuận lợi. Xã có diện tích tự nhiên 12.377 ha, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 98,08% dân số, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều còn cao. Nhu cầu mở mới, bê tông hóa đường liên thôn, đường sản xuất và khắc phục sạt lở rất lớn, trong khi nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và ngân sách địa phương còn hạn hẹp.
Quá trình triển khai các công trình cũng gặp khó khăn về trình tự thủ tục đầu tư, điều chỉnh dự toán, huy động đơn vị tư vấn khảo sát, thiết kế. Việc vận động người dân hiến đất, cây trồng, tháo dỡ công trình phụ trợ cần thời gian để tạo sự đồng thuận. Cùng với đó, nguồn cát, đá khan hiếm, giá vật liệu tăng cao tiếp tục tạo áp lực lên tiến độ và chi phí xây dựng.
Thực tế trên cho thấy, để hoàn thiện hạ tầng giao thông, Sơn Lương không thể chỉ trông chờ vào các đợt đầu tư ngắn hạn mà cần có lộ trình dài, với trọng tâm là các tuyến đường kết nối khu dân cư với vùng sản xuất, trường học, trung tâm giao thương. Cùng với đó là huy động tối đa nguồn lực từ các chương trình mục tiêu, ngân sách và sự đồng lòng chung sức của Nhân dân.